Thở Dưới Nước

rescueCũng như tất cả thành viên của hội AA (Alcoholics Aanonymous), lời đầu tiên của John trong những cuộc họp mặt thường lệ chính là: Tôi là người nghiện rượu.

John bắt đầu uống rượu từ rất trẻ và ngày càng lún sâu vào việc nghiện ngập. Không cần phải nói, thể xác và tinh thần của John mỗi ngày mỗi tồi tệ; đời sống cá nhân cũng như gia đình của anh đều bị ảnh hưởng nặng nề. Dầu vậy, hậu quả lớn nhất mà John phải chịu đó chính là ám ảnh của sự sợ hãi. John không bao giờ hài lòng về chính mình và không bao giờ cảm thấy tự tin về những thành quả trong cuộc đời mình vì nổi mặc cảm quá lớn: Mình là một con nghiện. Điều này làm John luôn sống trong sự sợ hãi; John không thấy bình an và tự tin nếu John không được khen ngợi. John luôn sống trong thái độ chờ mong được động viên, khen ngợi, và được thừa nhận từ phía người khác. Dầu vậy, những lời động viên khen gợi ấy cũng không thể nào lấp đầy vào lỗ hỏng của sự sợ hãi trong tim của John. John muốn có một đôi giày như người bạn đang có, vì nghĩ rằng với đôi giày ấy, John sẽ tự tin và yêu đời như người bạn kia. Nhưng buồn thay, sau khi đã có đôi giày ấy, John vẫn mặc cảm là giày của mình không đẹp bằng giày của người bạn. John thấy người bạn mình mang chiếc áo đẹp, nhưng sau khi John đã sở hữu chiếc áo như của người bạn, John vẫn không vui vì cho rằng, chiếc áo của mình vẫn có điểm gì đó thua chiếc áo của người bạn, điều này cũng làm cho John bối rối. Cứ như thế, tất cả những gì John nghĩ chúng có thể giúp John tự tin và đáng yêu hơn, nhưng sau khi đã sở hữu chúng, John vẫn không cảm thấy tự tin và đáng yêu như mình mong đợi. Cuộc đời của John như một người bị ngộp thở dưới nước – chẳng bao giờ John có được hơi thở tự do và cho chính mình cả. John luôn sống trong sự sợ hãi: thất bại, bị phê bình, sai lầm, không được công nhận.

Chúng tôi thừa nhận chúng tôi bất lực trước sự nghiện ngập này – Chúng tôi không đủ khả năng để làm chủ đời mình nữa


Lổ hổng sợ hãi được lấp đầy khi John chấp nhận mình là thành viên của AA – Hiệp Hội Người Nghiện Ẩn Danh. Tham gia vào hội AA, John được học mười hai bước nhằm giúp đở người nghiện làm lại cuộc đời mới. Trong mười hai bước này, bước căn bản đầu tiên chính là thựa nhận rằng: “Tôi bị nghiện rượu.” → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Bưới thứ nhất trong mười hai bước giúp người cai nghiện rượu được diễn đạt như sau: “Chúng tôi thừa nhận chúng tôi bất lực trước sự nghiện ngập này – Chúng tôi không đủ khả năng để làm chủ đời mình nữa.”[1] Chấp nhận mình là ai, tình trạng hiện tại như thế nào là bước căn bản đối diện thẳng với sự thật của mình. Khi can đảm chấp nhận sự thật – dù có phủ phàng, chúng ta đang đi vào nguồn sáng có khả năng giải thoát ta khỏi sợ hãi, u ám, và tội lỗi. Đúng vậy, cuộc đời con người luôn bị bao phủ những mạng nhện đan kín và chòng chéo lẫn nhau giữa điều muốn làm và điều không muốn làm, giữa sự ác và sự thiện, giữa tư tưởng ích kỷ và vị tha, giữa yêu mến và ghen ghét. Kinh nghiệm của thánh Phaolô giúp chúng ta tỏ bày điều đó: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Đó chính là phận người thụ tạo: tốt đẹp đan xen với bất toàn, yêu mến đan xen với ích kỷ, thánh thiện đan xen với tội lỗi. Mỗi người sẽ vẫn mãi có đó những thao thức cho sự hoàn thiện, vươn lên, và thoát tục. Tuy nhiên, điều nghịch lý lớn nhất trong đời sống đức tin của người Kitô hữu chính nằm ở chỗ, “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cor 12:10). Thực tế cho ta thấy, những kinh nghiệm được thương xót và thắm thiết “gần” Chúa không phải là lúc đời ta bình an tràn đầy nụ cười – dầu cũng có những trường hợp như thế, nhưng đa số, chúng ta cảm thấu Chúa yêu ta thường khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm vấp ngã hay tội lỗi. Câu hỏi khó có thể tìm cho ra giải đáp chính là: Vậy đây có phải là cuộc chơi “trốn – tìm” trong đời sống tâm linh giữa ta với Thiên Chúa? Sao Chúa lại “thích trốn” khỏi mình đằng sau những hoành cảnh éo le ấy? Xin thưa, dường như sự thánh thiện của Thiên Chúa chỉ có thể dành cho những ai khiêm tốn và gối họ biết quì xuống vì nhận ra phận người bất lực. Dường như sự thánh thiện ấy cũng chỉ ban tặng cho ai biết thừa nhận, “Tôi không còn đủ khả năng để làm chủ đời tôi nữa.” Và bởi vì, không có Chúa tôi không thể làm được điều gì!

* * *

Theo tiêu chuẩn xã hội, việc thừa nhận bất lực và không đủ khả năng điều khiển đời mình là một sự thất bại và thua cuộc. Đời sống xã hội dùng thành quả của danh tiếng và tiền tài để xác định chiến thắng hay thất bại của một đời người. Nếu áp dụng theo nguyên tắc này vào đời sống tâm linh thì hậu quả cũng rất nguy hiểm: Bình an thì thành công, bấn loạn là thất bại; hạnh phúc là thành công, lo lắng là thất bại; sạch tội là thành công, phạm tội là thất bại, làm chủ chính mình là thành công, mất tự chủ là thất bại. Nếu áp dụng những nguyên tắc này vào đời sống tâm linh, thì hoá ra, chúng ta chỉ mãi đi tìm những thành quả – của – chính – mình, vẫn lấy mình làm trung tâm mà không là Thiên Chúa. Như thế, có khác đâu những Pharisêu mà Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án?! Có khác gì đâu so với tội kêu ngạo của tổ tiên loài người?! Vì mãi chạy theo những tiêu chuẩn này, nên chúng ta cố “làm chủ” lấy mình cho bằng mọi giá kể cả khi trái tim ta trở nên băng giá vô cảm trước những yếu đuối lỗi lầm của anh em ta. Vô tình ta cũng đóng băng trước tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Hậu quả chính là đời sống đạo của ta bị bao phủ bởi hết mớ luật này đến mờ luật khác mà bỏ xót điều trọng tâm của đời sống Kitô hữu: Yêu Chúa và yêu người. Đó cũng chẳng khác nào sự biểu hiện một mức độ kêu ngạo sâu và thâm hơn mà thôi.

Năm thánh Thương Xót mời gọi ta thừa nhận như Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con là người tội lỗi.” Như người thu thuế đứng đằng xa không dám ngước mắt lên chỉ đấp ngực van xin tha thứ, như người mù bên vệ đường: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Ước chi chúng nhận lãnh ơn Thương Xót Chúa thật dạt dào trong đời ta, nhất là luôn biết thừa nhận sự bất lực của chúng ta khi đương đầu với tội lỗi và sự dữ. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Fr. Huynhquảng

[1] Richard (2011-09-17). Breathing Under Water: Spirituality and the Twelve Steps (p. 1). St. Anthony Messenger Press. Kindle Edition.

Thomas Merton

Thomas MertonTrong tông huấn Dung Mạo của Lòng Thương Xót (Misericordia Vultus), Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh đến sự thật rằng: Ơn cứu độ của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào lòng thương xót của Đấng giàu lòng thương xót. Ngài diễn đạt: “Lòng Thương Xót: là từ ngữ mạc khải các mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi. Lòng Thương Xót: là hành động cuối cùng và tối thượng qua đó Thiên Chúa đến gặp chúng ta. Lòng Thương Xót: là luật cơ bản ngự trị trong con tim của mỗi con người đang nhìn chân thành vào đôi mắt của anh chị em mình trên đường đời. Lòng Thương Xót: là cầu nối liên kết giữa Thiên Chúa và con người, trong khi mở lòng chúng ta ra cho một niềm hy vọng được yêu thương mãi mãi bất chấp tội lỗi ngập tràn của chúng ta (MV #2). Trong thời đại của chúng ta, khó có ai diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa đẹp hơn Thomas Merton – một tu sĩ chiêm niệm tại tu viện Gethsemani, Kentucky. Ông tự thú rằng: “Những điều nghịch lý nhất trong cuộc đời của tôi chính là những dấu chỉ lòng thương xót của Chúa.”

Dầu sao, chúng ta có thể mệt mỏi đi kiếm tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi đi kiếm tìm chúng ta.

Trong tự truyện The Seven Storey Mountain (Ngọn núi bảy tầng)được xem như là cuốn Tự Thú của thánh Augustinô trong thời hiện đại, Thomas Merton đã khiêm tốn chia sẻ một cuộc lữ hành kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa đời mình không mệt mỏi. Con đường ông đi qua cũng chính là con đường mà tất cả chúng ta cũng đang đi: cô đơn, sợ hãi, nghi ngờ, tham danh, háo sắc, ích kỷ, tội lỗi… nhưng lẫn lộn trong những thăng trầm ấy, lòng thương xót của Chúa không bao giờ cạn và luôn luôn đụng chạm đến từng vết thương ấy – để ta được chữa lành. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Thomas Merton (1915 – 1968) sinh tại Pháp, được rửa tội theo Anh Giáo, và định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi mẹ của Thomas mất lúc cậu mới sáu tuổi, cậu trở lại Pháp với người cha và theo học nhiều trường học tại Châu Âu. Trong thời gian học tại đại học Clare, Cambridge. Thomas đã sống một cuộc đời tự do phóng khoáng trong nhiều lãnh vực nhằm thoả mãn thú vui và cái tôi của mình. Chính trong thời gian này, Thomas cũng đã có một người con ngoài hôn thú. Năm 1934, Thomas trở lại Mỹ và ghi danh tại đại học Columbia, New York. Niềm khắc khoải và đi tìm ý nghĩa cho đời mình vẫn nung nấu tâm can của Thomas. Sự nhộn nhịp của thành phố New York cũng không đủ đáp ứng những tiếng gọi ẩn sâu trong trái tim của Thomas; hay nói đúng hơn, lối sống vui thú phù vân của con người, kiến thức triết lý mà Thomas lãnh hội đã không làm cho Thomas thoã mãn được; vì lẽ đó, đã có lần Thomas có ý định kết liễu đời mình trong thất vọng vô nghĩa.

Dầu sao, chúng ta có thể mệt mỏi đi kiếm tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi đi kiếm tìm chúng ta. Điều này thật đúng với Thomas Merton. Không có cách nào khác để cho tâm hồn ta được thoả mãn hơn là sự nhìn nhận một xác tín: “Chúng ta được sinh ra với niềm khao khát được biết và thấy Ngài.”[1] Không đón nhận hay làm ngơ những khao khát cháy bỏng trong con tim mình, hay đi tìm một sự khoả lấp chóng qua khác nhằm làm nguôi đi niềm khao khát ấy, chúng ta đánh mất cơ hội “biết và thấy” Ngài. Chấp nhận mình là thụ tạo và kiên trung chân thành đợi chờ, không sớm thì muộn, lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa sẽ tuôn đổ ngập tràn trong trái tim của chúng ta một cách bất ngờ.

Vào một ngày của tháng 8 năm 1938, sau nhiều lần lưỡng lự và đắn đo, Thomas đã quyết định đến nhà thờ Corpus Christi gần đại học Columbia để dự thánh lễ đầu tiên trong đời. Thomas tường tự thuật lại: Vào ngày Chúa nhật đẹp trời, Thomas như nhận được một lời mời nhẹ nhàng nhưng như được thúc dục “Go to Mass! Go to Mass!” (Hãy dự Thánh Lễ! Hãy dự Thánh Lễ!). Nhận ra tiếng thôi thúc nhẹ nhàng này, Thomas đã gọi điện cho người bạn gái và từ chối không đi chơi với nàng. Sau Thánh Lễ, Thomas cảm nghiệm được ân sủng đã nâng đỡ để giúp anh thấy hướng đi đời mình có ý nghĩa mục đích.[2]

Vào ngày 16 tháng 11 năm 1938, Thomas Merton đã để yên cho Thiên Chúa ôm hôn mình qua bí tích Rửa Tội. Một năm sau, lòng khao khát sự dấn thân theo Chúa qua tiếng gọi trở nên linh mục trổi dậy trong trái tim Thomas. Dầu vậy, tiếng gọi ấy vẫn cần phải được minh định và kiểm chứng qua thời gian cùng với sự bàn hỏi với những người kinh nghiệm. Gần ba năm (1939 – 1942), Thomas đã tìm hiểu ơn gọi của mình nhiều nơi, kể cả dòng Phanxicô. Bị khước từ vì lỗi lầm trong quá khứ, Thomas nhận ra là mình không có ơn gọi thuộc dòng Phanxicô và có lẻ ước mơ trở nên linh mục là một ảo tưởng, vì thế Thomas trở lại dạy học tại Đại học St. Bonaventura. Vào tháng 10 năm 1941, Thomas đã tìm đến tu viện Gethsemani để tĩnh tâm. Chính nơi đây, Thomas đã nhận ra lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa: “Chính trong bàn tay của Đấng yêu tôi hơn cả chính tôi yêu tôi, trái tim tôi được no thoả sự an bình.”[3] Chính nơi đây, Thomas đã không còn so đo chọn lựa đi hay ở, được hay mất, làm việc này hay việc khác, mà tất cả và cuối cùng chỉ còn: “Một mình Chúa thôi.”

Cuộc đời của Thomas Merton đã gợi lên đậm nét dung mạo của Lòng Thương Xót Thiên Chúa. Đó chính “là hành động cuối cùng và tối thượng qua đó Thiên Chúa đến gặp chúng ta” (MV #2). Cái nghịch lý đau khổ của con người chính là không chấp nhận để Thiên Chúa nhìn chúng ta vì chúng ta là con Thiên Chúa, mà chỉ thấy toàn là tội lỗi và sự kết án. Năm Thánh Lòng Thương Xót mời gọi ta suy niệm câu nói của Thomas Merton. “Đối với thánh nhân, khi nhớ đến tội mình, họ không nhớ đến tội, nhưng là nhớ đến lòng thương xót của Chúa; vì thế, những xấu xa của quá khứ biến thành niềm vui để phụng sự vinh quang Thiên Chúa trong hiện tại.”[4] Có lẻ, đó cũng chính là lời mời Chúa dành cho chúng ta trong năm thánh Thương Xót.

Fr. Huynhquảng

[1] Thomas Merton, The Seven Storey Mountain (New York: A Harvest Book Harcourt, Inc, 1999), 191.

[2] Thomas Merton, 226.

[3] Thomas Merton, 343.

[4] Thomas Merton, 323.

Dung Mạo của Lòng Thương Xót

TXNH 4Trong Dung Mạo của Lòng Thương Xót (Misericordia Vultus) – tông sắc công bố Năm Thánh ngoại thường (8-12-2015 đến 20-11-2016), Đức Thánh Cha Phan-xi-cô mời gọi chúng ta mở lòng để nhận ra dung mạo của Thiên Chúa. Xét về ngôn ngữ, từ “misericordia” được kết hợp từ “miseri” nghĩa là “người nghèo, người đau khổ;” và từ “cord” nghĩa là “trái tim.” Như thế, dung mạo của Thiên Chúa được biểu lộ qua trái tim của Người – Trái Tim dành cho người nghèo khổ và tội nhân. Và quả thật là như thế, có ai trong thế giới mà không là tội nhân và gặp đau khổ. Vì thế, mỗi một cá nhân đều trở nên đối tượng trực tiếp cho lòng thương xót của Thiên Chúa – Đấng “giàu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86:15).

Sự thương xót ấy cần khởi sự từ niềm hy vọng và cậy trong vì biết rằng một Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chính con người ta – Ngài luôn luôn hy vọng vào ta.


* * *

Đứa con trai độc nhất của bà Thomas Ann Hines, sinh viên năm thứ nhất đại học, với một tương lai nhiều hứa hẹn, bổng dưng bị bắn chết bởi một sinh viên mười bảy tuổi sau khi đã cho cậu này lên xe đi chung với con bà một đoạn đường. Không một ai và chẳng điều gì có thể lột tả hết nổi căm hận và đau đớn trong trái tim của bà Ann. Trái tim của bà đã hoàn toàn mất niềm tin và cuộc đời – một cuộc đời không có hy vọng, không có tương lai, không có lý tưởng, mà chỉ thay vào đó là những ý tưởng của căm hận thủ phạm, căm hận cuộc đời, và căm hận chính mình. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Sau mười ba năm rên xiết với vết thương của cuộc đời, bà quyết định vào trại tù của thủ phạm để hỏi lý do tại sao thủ phạm lại giết con của bà. Đối diện với thủ phạm – một tù nhân gục mặt trên bàn và với những tiếng nấc ngẹn ngào – bà Ann đã đụng chạm được lòng thương xót và nhân hậu – không phải cho ai khác, nhưng là cho chính bà để bà được giải thoát. Được các ký giả hỏi lý do tại sao bà có thể trò chuyện và tỏ lòng tha thứ cho thủ phạm, bà Ann không ngần ngại đám: “Nếu người ngồi đó là con trai của tôi thì sao? Nó cũng rất cần một bàn tay của ai đó nâng đở và đứng dậy.”[1]

Câu chuyện trên không chỉ làm cho ta cảm động nhưng cũng đánh thức lòng thương xót và nhân hậu ngay trong con người của mình dù mình có bị lảng quên. Hơn ai hết, chính ta cần biết thương xót và cảm thông với chính mình – một thân phận con người bị giằng xé đấu tranh quyết liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thiện và sự ác, giữa điều mình muốn và không muốn, giữa tinh thần và thể xác. Hai thế lực này luôn xung khắc trong chính bản thân của ta và làm cho ta bị thúc dục làm điều mình dù không muốn, nhưng mà lại cứ làm (cf. Rm 7:19). Có ai muốn nói xấu đâu, thế mà ta vẫn nói xấu; có ai muốn ích kỷ đâu, thế mà ta vẫn ích kỷ; có ai muốn trộm cắp đâu, thế mà vẫn trộm cắm. Ai ai cũng muốn làm điều tốt, nói điều tốt, thế mà mỗi ngày ta vẫn làm điều xấu, nói điều xấu. Ai cũng muốn yêu thương, nhưng cư xử lại là sự thù hận; ai cũng muốn sống trong sạch, thế mà vẫn phạm lỗi khiết tịnh; ai cũng muốn kính trọng chăm sóc cha mẹ, thế mà mở miệng vẫn là sự chua chát kể lễ, so đo. Đó chính là con người tội nghiệp của ta! Ta đáng thương lắm và cần được thương xót lắm. Sự thương xót ấy cần phải được khởi sự từ chính bản thân của ta – một con người nhận ra sự hoàn toàn bất lực khi đương đầu với bóng tối và tội lỗi. Sự thương xót ấy cần khởi sự từ chính Thiên Chúa là Đấng luôn luôn giàu lòng thương xót và yêu thương ta (cf. Eph 2:4). Sự thương xót ấy cần khởi sự từ niềm hy vọng và cậy trong vì biết rằng một Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chính con người ta – Ngài luôn luôn hy vọng vào ta. Thương Xót và Nhân Hậu trở thành chiếc cầu nối dẫn từng bước chân ta gần lại với Thiên Chúa, với con người và với chính mình. Ai đã đặt nền móng cho chiếc cầu ấy? – Thưa đó là Đức Kitô đã hạ mình khiêm tốn biểu lộ Dung Mạo Thương Xót trên chiếc cầu Thánh Giá, “Hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lk 23:43). Đó chính là Dung Mạo thật của Thiên Chúa – bất chấp tất cả những gì ta đã xúc phạm đến ngài, miễn là biết nhận ra sự bất lực để van xin: “Xin nhớ đến con khi về nước của Người” (Lk 23:42).

* * *

Theo TGM Fulton Sheen, khi diện kiến Thiên Chúa, có ba điều làm chúng ta hết sức ngạc nhiên: (1) Có những người chúng ta tưởng là họ sẽ ở trên Thiên Đàng, nhưng chúng ta không thấy họ ở đó. (2) Có những người chúng ta không bao giờ nghĩ là họ có thể được vào Thiên Đàng, nhưng họ lại có đó. Và cuối cùng, (3), chúng ta cũng sẽ ngạc nhiên vì chính chúng ta cũng ở trên Thiên Đàng vì nhờ vào lòng Thương Xót hãi hà của Chúa.

Thưa bạn, nếu bà Ann không can đảm đối diện với người thủ phạm gây ra cái chết cho con bà, ta cũng không thể biết được liệu những gánh nặng của hận thù và thất vọng sẽ kéo lê cuộc đời của bà thêm bao nhiêu năm nữa?! Chắc chắn một điều bà Ann không thể cản nghiệm thế nào là lòng thương xót và nhân hậu nếu bà tiếp tục sống trong oán hận thù hằn. Lý luận của bà Ann với chính mình – “Liệu người ngồi sau song sắt là con bà…,” nhắn nhủ ta một lý luận sâu thẳm hơn đến từ Thiên Chúa – “Liệu có người mẹ nào lại có thể quên đứa con của mình?… Dù người mẹ ấy có quên nó đi chăng nữa, phần Ta, Ta sẽ không bao giờ quên người” (cf. Is 49.15). Lời Chúa cũng cố lòng tin và tín thác của ta vào lòng thương xót của Thiên Chúa; chắc một điều Thiên Chúa sẽ không thể làm ngơ khi ta gục đầu van xin lòng thương xót của Ngài.

Fr.Huynhquảng

[1] Joan Chittister, God’s Tender Mercy (Twenty Third Publication, 2010) 8-10.

Con biết hỏi ai ? (Phần 2)

TXNH-3Cậu bé nhìn Chúa như vẫn thắc mắc muốn hỏi thêm tại sao và tại sao?… Bổng dưng, Chúa dẫn cậu bé quay về lại thời tạo thiên lập địa. Trước mắt cậu bé là tuyệt tác của tình yêu: vũ trụ, vạn vật và con người. Trang sử đầu tiên của con người là trang sử đẹp, an bình, và tự do. Con người hoà quyện nên một với

Tâm điểm của đời sống Kitô hữu là đón nhận sự ân cần và thiện hảo mà Thiên Chúa không ngừng mạc khải qua lòng Thương Xót của Ngài, để nhờ đó mỗi chúng ta được biến đổi.

Thiên Chúa, vui hưởng thanh bình với nhau và vạn vật. Trong con người, thể xác và tâm hồn trở nên một mà không hề có sự đối chọi hay muốn thống trị nhau. Tất cả mọi suy nghĩ, hành động và lời nói luôn biểu hiện lòng tôn thờ và phụng sự Thiên Chúa là chủ thể của mình. Con người không nhọc nhằn đi tìm bình an hay hạnh phúc, tự do hay niềm vui, vì con người đã được no thoả nhờ sự nên một với Thiên Chúa.

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Cậu bé dừng lại quan sát hình ảnh Adam và Eva bị dụ dỗ và cuối cùng ưng thuận ăn Trái Cấm. Quan sát hành động của Adam và Eva, cậu bé hỏi Chúa. “Chúa ơi, Chúa có hối tiếc vì ban cho con người sự tự do? Giá như…” Cậu bé chưa thể chấm dứt lời giả thiết và cũng là sự hối tiếc của mình, (“Giá như đừng có hành động ăn trái cấm của Adam và Eva, thì…”). Cậu bé đã thấy ngay hành động yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa qua việc Lời hứa Cứu độ. Rất ngỡ ngàng và ngạc nhiên trước phản ứng rất nhanh của Thiên Chúa trong việc yêu thương cứu độ con người, cậu bé nhìn Chúa như muốn hỏi điều gì thêm, nhưng Chúa kéo cậu vào lòng và dỗ cho cậu chìm trong giấc ngủ sâu.

* * *

Cậu bé chợt thấy lại việc cậu đã không vâng lời mẹ mà có lần cậu cố tình trốn học giáo lý đi tắm suối với bạn bè. Hậu quả là bị một trận đòn nhớ đời. Nhưng trận đòn đó không làm cho cậu bị tổn thương và ra hư đốn, nhưng nhờ nó mà hôm nay cậu nhận ra rõ tình thương vô điều kiện của mẹ mình một cách thiết thực hơn. Sau trận đòn là có ngay một bịch chè để như xoa dịu vết thương cho con của mình; và hơn thế nữa, mẹ cũng nói lên rằng: Việc cậu bị đánh đòn không có nghĩa là mẹ cậu không thương cậu, nhưng việc đánh đòn là để giáo dục giúp cậu nên người. Tình thương của người mẹ trải dài xuyên xuốt cả cuộc đời và sẽ mãi vẫn không bao giờ thay đổi dù cậu có oán giận hay không vui trong lúc này.

Cậu cũng thấy lại hình ảnh chính cậu đã không vâng lời ba qua việc đá bóng trước sân nhà làm các cây hoa kiểng và rau do ba trồng bị dập chết đi. Ba giận lắm, buồn lắm vì công khó trồng chúng. Một đứa con không vâng lời “phá hoại” như thế làm sao mà không giận và buồn được! Bị phạt quì là đúng. Khôn lớn và trưởng thành hơn, cậu bé hiểu được tình cha và nhận thức giá trị của việc bị quì – không phải mình bị ghét bỏ, nhưng là để giúp mình lớn lên trong trách nhiệm biết quan tâm để ý đến nhu cầu của người xung quanh.

Dựa mình vào Trái Tim Chúa, cậu bé tiếp tục thấy lại những hình ảnh mình được yêu thương từ cha mẹ, ông bà, anh chị, bà con, bạn hữu… chợt cậu oà lên một tiếng: “Con hiểu rồi! Chúa sẽ chẳng hối tiếc vì ban cho con người sự tự do đâu. Nếu Chúa có hối tiếc thì Chúa hối tiếc cho chính thân phận con người vì đã dùng tự do không đúng mà thôi. Còn Chúa vẫn mãi yêu thương con người và tình yêu ấy chẳng bao giờ thay đổi. Con nghĩ như thế có phải không Chúa?” Cậu bé hỏi. Chúa nhìn cậu bé mĩm cười. Ngài đưa tay xoa nhẹ đầu cậu bé như là một biểu hiện cho sự hài lòng về câu trả lời của cậu bé.

* * *

Linh mục Jacques Philippe xác quyết rằng, “Tâm điểm của đời sống Kitô hữu là đón nhận sự ân cần và thiện hảo mà Thiên Chúa không ngừng mạc khải qua lòng Thương Xót của Ngài, để nhờ đó mỗi chúng ta được biến đổi.”[1] Vâng, chỉ có sự cảm nghiệm thật riêng tư về lòng thương xót của Thiên Chúa mới có thể giúp cho đời của ta được biến đổi. Lòng thương xót ấy trở nên nền tảng cho đời sống đức tin – không chỉ lúc chúng ta sa ngã, nhưng ngay từ công trình tạo dựng. Lòng thương xót của Thiên Chúa đã hiện diện ngay từ giây phút đầu tiên của công trình sáng tạo – đó là sự biểu hiện lòng thương xót vô điều kiện của Thiên Chúa. Mọi sự do Ngài tạo dựng đều tốt đẹp. Vì thế, việc ban Lời hứa cứu độ cũng chỉ nhằm phụng hồi sự toàn vẹn đã bị đánh mất do sự tự do của con người. Nếu cha mẹ cũng không muốn con cái mình bị hư hoại trong cuộc đời này thì làm sao Thiên Chúa có thể làm ngơ trước việc con cái mình bị sự dữ hoành hành?! Thiên Chúa không muốn bất cứ tạo vật nào – đặc biệt là con người phải bị hư vô. Đó là bằng chứng hùng hồn để chúng ta tín thác vào lòng thương xót vô điều kiện của Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (cf. Rm 5:8). Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì là chúng ta tốt, làm việc giỏi giang, xiêng năng làm việc lành… nhưng thực ra, tình yêu của Chúa dành cho chúng ta không lệ thuộc vào khả năng hay công trạng của chúng ta, nhưng đơn giản vì chúng ta là con cái của Ngài – thế thôi! Đó là một khởi điểm hy vọng cho thân phận làm người – dù bất toàn, nhưng luôn luôn có niềm cậy trông vào tình yêu chung thuỷ của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta.

Qua mục Thương Xót và Nhân Hậu, chúng ta cầu chúc nhau cảm nghiệm được lòng thương xót Chúa dành cho mỗi chúng ta để chúng ta có thể biểu hiện lòng nhân hậu đến với mọi người, đặc biệt trong năm Thánh Thương Xót.

Fr. Huynhquảng

[1] Philippe, Jacques (2012-06-07).The Way of Trust and Love – A Retreat Guided by St. Therese of Lisieux.

Con biết hỏi ai ? (Phần 1)

In Heaven Chuyện kể rằng, một cậu bé sau khi kết thúc cuộc đời dương thế đã được các Thiên Thần đưa vào diện kiến Thiên Chúa. Linh hồn cậu bé đơn sơ hỏi Chúa. “Chúa ơi, Chúa là Đấng Toàn Năng vượt thời gian và không gian. Tức là đối với con thì còn lệ thuộc vào thời gian, vậy bây giờ con sống với Chúa con có bị lệ thuộc ngày tháng nữa không, con có tuổi không?” Chúa âu yếm mĩm cười xoa đầu cậu bé đáp, “Lúc con sống ở trần gian thì con còn bị giới hạn trong không gian và thời gian. Còn bây giờ, thì con không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian nữa.”

Đau khổ bất công cũng trở nên nguyên cớ cho một số người tuyên bố: Không có Thiên Chúa; số khác: Bỏ Chúa; số người còn lại: Vững tin và bám vào Thiên Chúa mạnh mẽ hơn.

Nghe xong, cậu bé chau mày tỏ vẻ băn khoăn. Chúa cúi xuống nhìn cậu và hỏi. “Thế có điều gì mà con boăn khoăn? Con có điều gì tâm sự?” Cậu bé nhìn Chúa nước mắt hoen mi đáp: “Thưa Chúa, thế thì buồn lắm, vì ở thế gian những cuộc chiến tranh, giết nhau, tranh giành nhau, nói xấu nhau, thù hằn nhau… nó cũng không bị giới hạn bởi thời gian nếu mình đứng trên này nhìn xuống, có phải không Chúa?” Chúa không nói gì mà nắm tay dẫn cậu bé lên một căn phòng cao hơn và mở cánh cửa cho cậu nhìn xuống thế giới loài người. Cậu bé nhìn chiều dài lịch sử loài người, từ ngày tạo dựng, những nhân vật trong Kinh Thánh, lụt Hồng Thuỷ… cậu dõi theo từng thế kỷ, cậu cũng có thể nhìn thấy rõ từng con người, từng hoàn cảnh, từng địa điểm… chỉ có một điều là cậu không được phép đọc hiểu những tư tưởng của những con người ấy. Cậu bé hỏi Chúa. “Thưa Chúa, chỗ nào là chỗ gần thời gian con sống nhất?” Chúa chỉ cho cậu thời gian của thế kỷ hai mươi vừa qua. Trong thời gian ấy, cậu thấy rất rõ cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai, cuộc chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Trung Đông, và cả cuộc khủng bố 911 nữa. Những hình ảnh ấy vẫn cứ diễn ra trước mắt cậu. Cậu sững sờ rơi lệ nhìn Chúa hỏi: “Chúa phải thấy mỗi ngày như thế này sao?! Tại sao Chúa không ngăn cản họ?” Chúa không nói gì, giang tay ôm cậu vào lòng. Bên lòng Chúa, cậu nghe nhịp đập thổn thức từ con tim của Ngài.

* * * → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Theo con số thông kê, trong thế kỷ 20 vừa qua, hai cuộc chiến tranh thế giới đã gây tử vong cho gần 70 triệu người. Dưới chế độ Cộng Sản, số nạn nhân lên tới gần 100 triệu người. Riêng tại Việt Nam, chỉ trong vòng ba năm (1953 – 1956) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, con số người Việt Nam bị giết hại gần 200.000.[i] Và hôm nay, những cuộc tấn công giết hại những nạn nhân vô tội vẫn diễn ra hằng ngày trên khắp thế giới.

Những nạn nhân vô tội mà con người gây cho nhau nói lên điều gì trong lịch sử con người và lịch sử cứu độ? Ai đã nghe được tiếng kêu than của chính nạn nhân và gia đình họ? Thiên Chúa ở đâu trong những hoàn cảnh ấy? Tại sao Thiên Chúa lại để những sự bất công ấy vẫn tiếp tục diễn ra hôm nay? Nếu Thiên Chúa là Đấng công minh và giào lòng thương xót, sao Ngài không xót thương và trả công bằng cho những nạn nhân ấy? ĐHY Walter Kasper trích lại câu hỏi của Romano Guardini: “Lạy Chúa, tại sao lại đi đường vòng trong sự cứu độ, tại sao người vô tội chịu đau khổ, tại sao quá nhiều sai lầm?”[ii] Xem chừng như khi mang thân phận con người, chúng ta vẫn sẽ mãi không tìm được câu trả lời cho những câu hỏi tương tự như thế.

Đau khổ và bất công trở thành đề tài bàn cải sôi nổi nhất trong trong các gặp gỡ từ các vị lãnh đạo cho đến người dân bình thường. Đau khổ bất công cũng trở nên nguyên cớ cho một số người tuyên bố: Không có Thiên Chúa; số khác: Bỏ Chúa; số người còn lại: Vững tin và bám vào Thiên Chúa mạnh mẽ hơn. Thực ra, xét cho cùng, những thắc mắc vẫn nạn về đau khổ đã nêu lên một điểm rất độc đáo của loài người: Tức là con người luôn luôn tìm ý nghĩa cho cuộc đời. Đúng là như vậy, nếu con người không còn thắc mắc và trăn trở trước những vấn nạn đau khổ, bất công, con người cũng chẳng khác chi loài thú chỉ biết hưởng thụ của cải vật chất mà thôi.

Cũng như câu chuyện trên, Thiên Chúa đã không trả lời cho cậu bé, nhưng Ngài ôm cậu vào lòng để cậu nghe nhịp đập từ con tim của Ngài. Chúng ta cũng hãy để Thiên Chúa ôm chúng ta vào lòng và nghe nhịp đập từ con tim của Ngài. Từ con tim yêu thương ấy, chúng ta dần dần cảm thấu được lòng thương xót của Ngài quá lớn lao và tình yêu của Ngài quá quảng đại… Chúng ta sẽ hối tiếc nếu chúng ta phí quá nhiều thời gian loay hoay đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn vượt khỏi khả năng của chúng ta, và chúng ta cũng sẽ hối tiếc khi mất nhiều thời gian than khóc cho những vấn nạn của chính mình. Hãy cứ ngã vào Thánh Tâm của Ngài để cảm nghiệm Lòng Thương Xót của một Thiên Chúa là Đấng làm chủ vũ trụ này.

* * *

Cậu bé nhìn Chúa như vẫn thắc mắc muốn hỏi thêm tại sao và tại sao?… Bổng dưng, Thiên Chúa dẫn cậu bé quay về lại thời tạo thiên lập địa (Còn tiếp phần 2).

[i] http://www.scaruffi.com/politics/dictat.html

[ii] Kasper, Cardinal Walter. Mercy: The Essence of the Gospel and the Key to Christian Life (Locations 211-214). Kindle Edition.

Té Ngã Để Bay Cao

Posted by

Falling UpwardCuối cùng, chúng ta sẽ chịu xét xử bằng tình yêu” (Gioan Thánh Giá). Khi cuộc đời đã quá nhiểu nhương với những thủ đoạn, khi con người thiếu mất niềm tin, khi hơi thở chỉ còn là sự níu kéo bất lực, thì chúng ta sẽ còn lại chi và cần điều gì? Xin thưa, chỉ còn lại ánh mắt của Đấng giàu lòng thương xót và lòng nhân hậu của con người. Thân mời bạn cùng chia sẻ và cảm nhận thêm về lòng Thương Xót và Nhân Hậu qua loạt bài mới của Fr. Huynhquảng.

Các thánh nhân thì không, họ chấp nhận “té” vào lòng thương xót vô bờ của Chúa – liều để Ngài dẫn họ đi vào hành trình mới!

Té Ngã Để Bay Cao

“Falling Upward – Hành trình tâm linh cho hai nửa cuộc đời” là tựa sách do Linh mục Richard Roh, dòng Phanxicô cho xuất bản năm 2011. Trong “Falling Upward” tạm dịch, “Té ngã để bay cao,” tác giả thừa nhận rằng, đời sống tâm linh của con người không bao giờ nằm trong trạng thái tĩnh như những con số toán học. Thực là như vậy, đời sống con người luôn luôn thay đổi cả về phương diện tinh thần và thể xác. Vì lẽ đó, những vấp ngã, tai nạn xảy ra cho mỗi con người là điều không thể tránh khỏi. Con người té ngã là chuyện bình thường của một phận người, nhưng đứng lên và làm mới lại cuộc đời mới là điều quan trọng trong cuộc đời chúng ta. Khi biết ôm chầm hoàn cảnh té ngã, chúng ta sẽ được đổi mới với tràn đầy bình an và thương xót mà ta không bao giờ tưởng tượng như trước đây. Đời chúng ta sẽ được biến đổi. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Theo Lm. Richard Roh, đời sống tâm linh con người được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn một (từ nhỏ cho đến khoảng 40 tuổi), người ta chú trọng vào việc thiết lập cho đời mình một khuôn mẫu luật lệ và đạo đức chắc chắn. Lối sống, suy nghĩ, cách ăn nói, ứng xử, giữ và sống đạo, luôn luôn theo một khuôn mẫu mà con người thâu thập hay đón nhận từ môi trường gia đình, giáo xứ, trường học đã truyền dạy cho họ. Họ uốn mình để trở nên giống bao có thể những chuẩn mực ấy.

Tuy nhiên, khi đương đầu trực tiếp với tai nạn và vấp ngã từ gia đình, bản thân…con người cảm thấy chới với vì những khuôn mẫu mà mình được gìn giữ đã không đủ sức mạnh cho mình đương đầu với những vấn nạn của cuộc đời. Cụ thể là mình không muốn chấp nhận sự bất toàn của con người yếu đuối của mình khi mình bị “té” ra khỏi những luật lệ khuôn mẫu ấy. Tuy nhiên, theo tác giả, đây là cơ hội để cho phép cuộc đời mình bước vào giai đoạn hai – một giai đoạn của tình yêu, tự do, và lòng thương xót.

Để bước vào giai đoạn hai, tác giả nhắc nhở chúng ta hai điều sau: (1) Luôn xác tín vững chắc là Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, dù lúc ta đã phạm tội; (2) Đôi khi những sai lầm trong cuộc đời thường dạy chúng ta nhiều bài học giá trị và giúp chúng ta trưởng thành hơn. Đức Kitô đã chẳng bước vào giai đoạn hai bằng cái chết đó sao? Maria Madalena đã chẳng bước vào giai đoạn hai đó sao? Phêrô, Phaolô cũng thế, Augustinô, Phanxicô Assisi, I-Nha-xi-ô….và bao nhiêu thánh nhân khác cũng đã chẳng bước vào giai đoạn hai đó sao? Sự khác biệt ở giữa thánh nhân và chúng ta nằm ở chỗ: Khi chúng ta đã té ngã rồi, chúng ta không chấp nhận chúng ta và muốn quay về lại lối sống của giai đoạn một với những giọng điệu phê bình, chỉ trích lên án, hối tiếc, hằn học…loay hoay trong vũng lầy bất an ấy; còn các thánh nhân thì không, họ chấp nhận “té” vào lòng thương xót vô bờ của Chúa – liều để Ngài dẫn họ đi vào hành trình mới!

Lm. Richard Roh nhấn mạnh, khi dám liều mình bước theo Chúa trong giai đoạn hai, chúng ta sẽ nghe tiếng Chúa “sâu hơn và gần hơn” mà chúng ta chưa từng nghe bao giờ. Chính trong giai đoạn hai này, đời chúng ta mới nhận ra những nỗ lực cố gắng xây dựng đời mình theo khuôn mẫu của giai đoạn một về trước là có giá trị – vì nếu không có giai đoạn hai này, giai đoạn một ấy chỉ còn là vang vọng của sự khô cứng, phê bình, chỉ trích, so sánh, và luật lệ dày đặc. Điều này, làm chúng ta mất đi cơ hội nếm cảm vẻ đẹp thật của đức tin, của tình yêu, và sự tự do mà Thiên Chúa chờ ban cho chúng ta. Thiên Chúa biết rõ chúng ta là ai, và được dựng nên bằng gì! Vậy hãy đến với Ngài bằng con người thật của chúng ta. Đó mới là tình Cha – con, đó mới chính là ý nghĩa đích thực của Lòng Thương Xót.

Như vậy, giai đoạn một có giá trị gì cho cuộc đời của chúng ta? Giai đoạn một tựa như giúp chúng ta tuân thủ nhạc lý của âm nhạc, nhưng dĩ nhiên, những bản nhạc bất hủ cũng thường đến từ những cảm xúc và hoàn cách bi đát có phải không? Như thế, luật có giá trị khi giúp ta thăng hoa chứ không làm chúng ta nghẹt thở.  Sau khi kết thức 100 đề tài Sống Sao Cho Đẹp – cũng như là giai đoạn một của một phận người, Fr. Huynhquảng mời bạn cùng bước vào giai đoạn hai – một giai đoạn của Thương Xót và Nhân Hậu. Đó cũng là chủ đế mới thay cho mục Sống Sao Cho Đẹp.

Fr. Huynhquảng

Người Không Có Tương Lai

Tiệc cưới vừa tàn, cô dâu chú rễ cùng bà con bạn hữu đang quay quần chụp thêm những tấm hình như muốn níu kéo niềm vui đến bất tận. Bổng xuất hiện trước cổng là một người đàn ông chừng sáu mươi dáng thẳng đứng, da xạm đen, tay xách hai thùng nhựa với nhãn hiệu sơn Delux, tiến về nhà hàng và đi thẳng vào nhà bếp. Ít lâu sau, nặng nề nhưng nhanh nhẹn, ông xách ra hai thùng thức ăn thừa mứa, đặt lên sau xe Honda, buộc chặt và nổ máy chạy đi. Việc ông đến và đi nhanh nhẹn, âm thầm như chẳng ảnh hưởng đến ai, thế nhưng hai thùng thức ăn thừa ấy trở nên phần quà quí giá để ông bán lại cho người nuôi gia súc. Với vài chục ngàn đồng bán được, ông dành dụm để mua tả cho các “con” của ông. Ông có nhiều con lắm – tổng cộng gần bảy mươi người. Con của ông lạ lắm, có người ngoài bảy mươi và cũng có bé chỉ vài ba tuổi. Các con của ông, hầu như đều mắc chứng bệnh thiểu não, gọi ông là Thầy/Bố Châu. Theo ông, với loại bệnh này, các con của ông sẽ không có một tương lai nào cả – hằng ngày họ được nuôi ăn cho đến chết mà có lẽ xuốt đời, chúng cũng không thể nói được lời cám ơn. Ông gọi họ với tên không giống ai, nhưng rất thật: Người Không Có Tương Lai.

Không chỗ nào tệ và thấp hơn chỗ này… Các em mồ côi còn có tương lai, còn được học hành, ít ra cũng còn biết nói lời cám ơn. Còn những người ở đây vì họ là những người không có tương lai nên bị chê từ nhiều chỗ khác… Mình nuôi họ cho đến chết


→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Thầy Châu là ai? Với nụ cười tươi, thầy Châu hóm hỉn chia sẻ, “Tôi bị mắc nợ mấy tháng với dòng Phan-xi-cô. Tu không được, nên về. Bầy giờ vẫn còn mang cái nợ này phải trả.” Sau khi lập gia đình, Thầy đã tình nguyện ôm “của nợ” này cách đây mười tám năm tại Khu L-C-D – làng Quảng Biên, từ đó Mái Ấm Phan Sinh được ra đời. Năm 2013, Thầy cùng với vợ con được định cư tại Hoa Kỳ, tuy nhiên, thầy cũng không đành bỏ “của nợ” ấy được. Thầy chia sẻ với gia đình: “Xin em và các con cho anh được về Việt Nam để lo cho “các con.” Anh biết anh có lỗi với em và gia đình, nhưng anh không thể để “các con” mồ côi được. Anh không lo cho các con thì ai sẽ lo cho chúng? Anh sẽ trở lại Chicago sau vài ba tháng.” Cứ như thế, vài ba tháng Thầy Châu lại về Việt Nam để thương yêu và chăm sóc cho các con của mình.

Tình yêu của Thầy Châu được thôi thúc mạnh mẽ từ câu lời Chúa: “Khi các con làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Thầy, là các con đã làm cho chính Thầy.” Thầy tâm sự một cách xác tín, “Vâng, mình đang làm cho Chúa.” Thầy tiếp, “Đây là những con người bé mọn và cùng mạt nhất rồi – không chỗ nào tệ và thấp hơn chỗ này. Các em mồ côi còn có tương lai, còn được học hành, ít ra cũng còn biết nói lời cám ơn. Còn những người ở đây vì họ là những người không có tương lai nên bị chê từ nhiều chỗ khác… Mình nuôi họ cho đến chết.” Tỏ dầu hiệu ưu tư, thầy tâm sự, “Không biết khi mình chết, ai sẽ thay mình để lo cho họ.”

Trong số một vài tình nguyện viên ít ỏi, Bình là người mới đển Mái Ấm Phan Sinh gần một tháng. Một thanh niên hai mươi mốt tuổi, đang làm công nhân lương một trăm ngàn đồng một ngày, bổng dưng bỏ ngang vào Mái ấm Phan Sinh để tình nguyện đổ bô, tắm rửa, và đút thức ăn cho những con người không hề biết nói lời cám ơn. Được hỏi động cơ nào Bình bỏ ngang công việc ổn định và tình nguyện gia nhập Mái ấm Phan Sinh để sống và chăm sóc cho những bệnh nhân này – đời Bình sẽ ra sao, không có tương lai? Nở nụ cười Bình thản nhiên trả lời: “Những người ở đây cũng đâu có tương lai đâu! Đâu cần nghĩ tới mình, miễn sao đời mình có ý nghĩa là được!”

Tấm lòng của Thầy Châu và bạn trẻ Bình phản chiếu một tình yêu chân thật và đậm nét của Đức Mến. Họ là những con người bình thường nhưng đang làm việc cao quí. Họ đặt đời mình trong sự vô định: Có an toàn nhưng chấp nhận rủi ro, có tương lai nhưng lại trao tương lai đời mình cho người tàn tật. Họ ấp ủ, đồng hành và hiện diện với những con người không có tương lai – để họ cũng trở nên những người không có tương lai.

Mục Sống Sao Cho Đẹp thân mời bạn cùng đồng hành với những Người Không Có Tương Lai một ngày, một tuần, hay một năm qua những khả năng trong tầm tay của bạn

Địa chỉ: Mái Ấm Phan Sinh. Tây Lạc, An Chu, Bắc Sơn, Huyện Trảng bom, Đồng nai. Điện thoại: 0937052410, 0909735430. Email: saomaichau@yahoo.com

Mục Sống Sao Cho Đẹp xin được kết thúc sau bài thứ 100 này. Cám ơn quí bạn đã đồng hành và chia sẻ với tác giả.

Thân ái,

Fr. Huynhquảng

Oscar Romero

Oscar RomeroTổng giám mục Oscar Romero (1971 – 1980) bị sát hại trong lúc ngài đang dâng thánh lễ tại nhà nguyện của một nhà thương chuyên trị ung thư. Cuộc tử đạo của Ngài là hoa trái của lòng yêu mến Thiên Chúa và con người, cụ thể qua những con người bị áp bức.

Bài học dài-lâu nhất vẫn là bài học yêu thương – bởi yêu cả một đời mà vẫn không bao giờ thấy đủ.


Oscar Romero sinh vào ngày 15 tháng 8 năm 1917 tại Ciudad Barrios, El Salvador. Từ mười ba tuổi, Oscar đã bày tỏ ước nguyện được làm linh mục. Sau khi gia nhập chủng viện và hoàn tất chương trình học, Oscar nhận thiên chức linh mục vào năm 1942. Từ khi trở nên linh mục cho đến năm 1970, Cha Oscar phục vụ một cách âm thầm tại các giáo xứ. Năm 1970 đến 1974, ngài nhận chức giám mục phụ tá tại San Salvador. Năm 1974, ngài được bổ nhiệm giám mục của giáo phận Santigao de Maria. Năm 1977, Giám mục Oscar Romero quay trở lại giáo phận San Salvador với cương vị tổng giảm mục giáo phận. Sau thời gian nhận giáo phận không lâu, ngài phá tan sự im lặng bằng những bài giảng thâm thuý và mạnh mẽ vào các thánh lễ Chúa nhật. TGM Oscar Romero đã lên tiếng bảo vệ cho người nghèo và nạn nhân bị áp bức bất công, đặc biệt cho những nạn nhân bị áp bức vì niềm tin và nhân quyền. Ngài trực diện tranh đấu đối với nhà cầm quyền của El Salvador.

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Khởi điểm cho sự lên tiếng bảo vệ người bị áp bức được đánh dấu sau cuộc thảm sát xảy ra đối với linh mục dòng tên Rutillio Grande, một người bạn lâu năm của TGM Oscar. Trong các thánh lễ Chúa Nhật tiếp theo, TGM Oscar đã mạnh mẽ tố cáo sự bất công và đê hèn của nhà cầm quyền khi cho bắt và thủ tiêu những nạn nhân vô tội vì họ sống và rao giảng phúc âm. Trong các bài giảng lễ Chúa nhật, ngài nêu đích danh những “desaparecido – nạn nhân mất tích” và kể về cuộc đời của họ; ngài cũng như kêu gọi các người lính hãy dừng tay lại và biết yêu thương anh em mình. “Các anh đang giết hại người anh em của mình. Người lính không nên tuân theo những mệnh lệnh trái đạo lý. Đã đến lúc phải phục hồi lại lương tâm. Nhân danh Thiên Chúa và những người đau khổ, tôi kêu gọi, van xin, và ra lệnh hãy ngừng những cuộc áp bức này.” Ngài cũng không ngần ngại yêu cầu tổng thống Mỹ Jimmy Carter ngừng viện trợ vũ khí cho quân đội El Savaldor.

Giá trả cho chứng nhân Tin Mừng và chọn lối sống bênh vực người bị áp bức cho người môn đệ của Đức Kitô là cái chết. TGM Oscar Romero đã phần nào tiên đoán được số phận của mình. “Là một Kitô hữu, tôi không tin rằng chết mà không có phục sinh. Nếu họ giết tôi, tôi sẽ sống lại với người dân Salvado của tôi.” Vào ngày 24 tháng 3 năm 1980, TGM đã hiệp với Chúa Kitô trở nên của lễ cho Thiên Chúa. Sau 35 năm, ngày 23 tháng 5 năm 2015, TGM Oscar Romero được nâng lên Chân phước – một tiến trình cuối cùng trước khi được Giáo hội phong thánh.

* * *

Bởi sức mạnh ở đâu mà TGM Oscar Romero có thể đương đầu với súng đạn mà không hề sợ hãi? Điều gì đã làm cho TGM Oscar Romero thấu chạm được sự bất công mà người anh em mình đang gánh chịu? Tình yêu Thiên Chúa và yêu con người đã biến đổi và làm cho ngài có sức mạnh phi thường để đối diện với bạo quyền; cũng như tình yêu ấy đã dẫn ngài tới việc đụng chạm sự khổ đau của anh em mình. Đối vời ngài, cuộc sống là một hành trình của yêu thương – yêu cho đến cùng. Yêu như tình yêu của Thiên Chúa.

Tình yêu thật là tình yêu hiến mạng và cho đi; tình yêu thật là nghĩ và mong ước điều tốt lành cho người mình yêu; tình yêu thật làm cho ta quên đi bản thân mình – không lấy mình làm trung tâm và điểm chuẫn hay động cơ cho suy nghĩ, lời nói và hành động, nhưng là lấy đối tượng mình yêu làm trung tâm và động cơ để suy nghĩ, lời nói và hành động của mình – chỉ nhằm đến điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu.

Bạn thân mến, đời bạn và tôi sẽ bớt khổ hơn, bớt đau thương hơn khi chúng ta biết yêu theo đúng nghĩa của nó. Bài học dài-lâu nhất vẫn là bài học yêu thương – bởi yêu cả một đời mà vẫn không bao giờ thấy đủ. Và đó chính là bí nhiệm của tình yêu. Thế mới hay, tình yêu thì không bao giờ cạn và đủ cho mỗi người, nó vẫn như là một nguồn yêu vô tận trong con tim của mỗi người – và dù đầy tràn như thế, nhưng mỗi chúng ta cũng không ngừng khao khát để được yêu thêm. Tới lúc này, chúng ta cần dừng lại để chiêm ngưỡng sức mạnh tình yêu trong con người của mình – Nó bắt nguồn từ đâu và tiếp tục khao khát về đâu?

Ta cầu chúc cho nhau sống yêu thương nhau thật lòng để tình yêu trong tim ta được thể hiện và cũng được đón nhận.

Fr. Huynhquảng

Con Kiến

Fr. VietThiên Chúa không bao giờ và mãi sẽ không giây phút nào bỏ rơi chúng ta. Niềm tin và hy vọng vào tình yêu chung thuỷ của Thiên Chúa đối với mỗi cá nhân thật sự sâu đậm và vững chắc. Vì lòng chung thuỷ của Thiên Chúa đối với mỗi cá nhân không lệ thuộc vào thành quả hay sự hy sinh lập công của chính chúng ta, nhưng bởi vì Thiên Chúa Là Tình Yêu và Thiên Chúa không thay đổi. Vì lẽ đó, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Thiên Chúa luôn mời gọi chúng ta đừng thất vọng, nhưng luôn hy vọng vì chính Ngài là Chúa của ta.

Wow, nó là con kiến mà còn biết thương nhau. Mình là con người, sẽ có người cứu mình!


Tôi bị bắt giam gần ba năm (2001 – 2004). Trong thời gian này, phần lớn là bị biệt giam. Vì ở một mình, nên tôi dễ dàng quan sát những thay đổi nhỏ trong phòng, những vị khách ruồi muỗi xuất hiện cũng dễ nhận ra. Sau khi nhận được bản cáo trạng với mức án “mười hai năm đến hai mươi năm, chung thân, hoặc tử hình,” lòng tôi bước vào một kinh nghiệm đen tối, sợ hãi và nghi ngờ. Nghi ngờ vào sự hiện diện của Thiên Chúa, nghi ngờ vào chính Thiên Chúa. Thế là hết một đời người với bao ước mơ, hy vọng cho cuộc đời tốt đẹp. Nhẹ nhất, tôi cũng sẽ trải qua mười hai năm tù. Tương lai sẽ về đâu? Gia đình người thân ra sao? Anh em, bạn hữu thế nào, sau hơn mười năm tù tội?

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Vào một buổi trưa với tâm trạng buồn thảm và thất vọng, tôi ngồi “chầu rìa” trong phòng giam để những giọt nước mắt lăn dài xót thương cho thân phận đen tối của mình… bỗng tôi thấy một con kiến đi vào phòng giam. Theo bản tính tự nhiên chưa thuần – thấy kiến là giết, tôi đưa tay giết con kiến. Nhưng khi tay tôi vừa chạm tới nó, tôi rụt tay lại vì nghĩ đến sự vô tội của nó. “Mình là thằng tù mà lại không biết thương con kiến vô tội?” Dẫu tay tôi đã rụt lại, nhưng quá muộn, vì tôi đã đụng đến nó. Hậu quả là một chân của nó bị gãy. Ôi thôi, thế là con kiến phải lê lết rất khó khăn trong phòng giam. Khốn khổ cho nó, vì trong phòng còn đọng lại một ít vũng nước nhỏ, thế là chú kiến vô tội – vốn chân đã gãy, lại còn bị kẹt vào vũng nước ấy – Hết đường thoát thân!

Tôi nhìn con kiến đau đớn muốn thoát ra vũng nước mà không thoát được; nó cố thật nhiều, nhưng bao nhiêu cố gắng của nó cũng chẳng thấm vào đâu. Tôi càng nhìn con kiến, tôi thấy chính tôi trong đó. Một lòng hối hận sâu sa trào đến trong tôi. “Tại sao tôi lại có ý gian ác giết con kiến vô tội như thế? Tôi là một tù nhân rồi, mất tự do rồi, tại sao tôi lại không biết thông cảm và yêu thương loài vật vô tội?” Nhìn con kiến bất lực lê lết trong vũng nước như vô vọng, tôi chỉ muốn giúp nó thoát ra vũng nước ấy, nhưng ngón tay tôi quá lớn, trong khi con kiến quá nhỏ, tôi chỉ e sợ là ngón tay tôi làm cho vết thương nó thêm nặng và hại cho mạng sống nó thôi. Vậy là trong tôi xảy ra một trận chiến nội tâm: Một bên là tôi muốn cứu con kiến, nhưng tôi không thể cứu nó; bên kia là than trách mình vốn vẫn chưa nhân từ và thương xót loài vật vô tội. Tôi nhìn con kiến vô tội muốn cứu nó mà than trách tôi: Tôi thật tệ, thật xấu, thật gian ác…. bao nhiêu tư tưởng tiêu cực như dành cho tôi. Bản cáo trạng tôi mới nhận vẫn chưa ráo mực, giờ đây chính tôi lại kết án tôi thêm nữa…

Bỗng nhiên, tôi thấy một con kiến khác từ ngoài cửa bò vào phòng giam. Nó đi thẳng đến vũng nước và cỗng con kiến bị thương. Nó rán sức để kéo bạn nó ra khỏi vũng nước và sau đó, nó dìu bạn nó bò từ từ ra khỏi phòng giam – đi ra hướng cửa mà nó đã đi vào. Sự việc xảy ra ngay trước mắt tôi gây cho tôi một sự sững sốt kinh ngạc đến nỗi tôi phải thốt lên: “Wow, nó là con kiến mà còn biết thương nhau. Mình là con người, sẽ có người cứu mình!” Tự nhiên trong tôi bừng lên một tia sáng và niềm hy vọng. Tôi như cảm nhận được lời nói của Chúa. “Con, Cha biết những tiếng khóc và lo sợ của con, cứ vững tin, đừng mất hy vọng, sẽ có người cứu con.” Quả thật, tôi được giải cứu và ra tù sớm hơn thời hạn rất nhiều.

Thưa bạn, chúng ta đang cùng nhau học hỏi về chủ đề Đức Cậy, một trong ba nhân đức đối thần trong loạt bài Sống Sao Cho Đẹp. Tôi mạo muội chia sẻ kinh nghiệm trên với bạn như để nhắc nhở chính tôi lại rằng, dù hoàn cảnh nào đó có làm tôi “què chân” hay bị giữ lại trong “vũng nước,” hay bị giam giữ dưới bất cứ hình thức nhà tù nào, thì tôi cũng không được phép thất vọng. Khi thất vọng là tôi xúc phạm đến Thiên Chúa – Một Thiên Chúa yêu thương tôi rất thật và rất gần gũi. Thiên Chúa rất gần – gần hơn cả hơi thở mà tôi đang thở, gần hơn cả suy nghĩ mà tôi cứ nghĩ là chỉ có tôi mới biết. Gần lắm, ngay trong da thịt và dòng máu của tôi. Và Thiên Chúa ấy sẽ mãi mãi không không bao giờ thất vọng trước bạn và tôi. Vì lẽ đó, chúng ta cũng không được phép thất vọng về chính mình và với Thiên Chúa.

Fr. Huynhquảng

Đức tin của tôi ở đâu?

Mother TeresaNgười nữ tu Albania Anjezë Gonxhe Bojaxhiu (1910 – 1997), cũng được gọi với tên quen thuộc là Mẹ Terêsa Calculta, dù với một dáng vóc bé nhỏ tầm thường, nhưng Mẹ đã trở nên mẫu gương đức tin cho thời đại chúng ta – một hành trình đức tin trong bóng đêm tưởng chừng như cô đơn lạc lõng, nhưng lại chiếu sáng cho nhiều người trên thế giới.

Mẹ Terêsa bắt đầu yêu thích đời sống tận hiến từ năm 12 tuổi. Sáu năm sau, vào năm 1928, Mẹ Terêsa trở thành nữ tu của dòng Đức Mẹ Loretta và bắt đầu hành trình truyền giáo tại Ấn độ năm 1929. Năm 1937, Mẹ khấn trọn đời tại Darieeling với ước nguyện “Hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời.” Bên cận công việc dạy học, cùng với các nữ tu trong nhà dòng, Mẹ Terêsa đi thăm viếng các bệnh nhân và chăm sóc những người bất hạnh tại Calculta. Hằng ngày đối diện với những anh chị em bất hạnh, Mẹ Terêsa luôn thao thức đặt câu hỏi: Ai sẽ chăm sóc cho những người bất hạnh lang thang trên đường phố hằng ngày?

Chính đức tin thúc đẩy ta không bỏ cuộc, gạt qua thất bại để dấn bước lên phía trước dù phía trước ấy là một đêm đen không ánh sáng.


→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Vào ngày 10 tháng 9 năm 1946, trên chuyến tàu đi từ Calculta đến Himalaya để tĩnh tâm, Mẹ Terêsa nhận được một lời kêu gọi mới từ Chúa Giêsu: “Ta biết con chỉ là người bất tài, yếu đuối và tội lỗi – nhưng chỉ vì chính con là mà Ta muốn mời gọi con để con làm vinh danh Ta, liệu con có từ chối?” Sau tiếng gọi thân thiết và khẩn khoản này, Mẹ Terêsa xin phép rời nhà dòng, và với sự chấp thuận của Tổng giám mục Ferdinard Périer, Mẹ Terêsa bắt đầu sứ mạng mới tại Calcuta chỉ để phục vụ những người “không ai thích, không ai yêu, và không ai chăm sóc.” Từ ngày ấy, hình ảnh của một nữ tu với chiếc sari trắng xanh miệt mài chăm sóc cho người nghèo dần dần được nhiều người biết đến. Điều đáng ngạc nhiên và thán phục chính là tài sản ban đầu của Mẹ Terêsa nhằm để giúp cho người nghèo chỉ là một cục xà-phòng và 5 rubi. Sau một thời gian không lâu, vào ngày 19 -3 -1949, thiếu nữ đầu tiên tình nguyện gia nhập hội dòng Thừa Sai Bác Ái chính là nữ tu Agnes – người học trò cũ của Mẹ. Từ đó trở đi, Hội dòng của Mẹ ngày càng lớn mạnh và phát triển và hiện diện trên khắp thế giới.

Từ năm 1950, Mẹ Terêsa miệt mài chăm sóc người nghèo và mở ra nhiều viện tế bần để chăm sóc các bệnh nhân, người phong hủi, các cô nhi, cũng như là sáng lập nhiều hội dòng khác nhau: Hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái (1963), Nữ Tu Chiêm Niệm (1976), Nam Tu Sĩ Chiêm Niệm (1979), và Hội Thừa Sai Linh Mục (1984). Bên cạnh đó, Mẹ Terêsa cũng được thế giới vinh danh với nhiều giải thưởng khác nhau: Giải Padmashri của Ấn Độ (1962), Giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1971), Giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới (1972), và Giải Nobel Hòa Bình (1979). Đến cuối đời của Mẹ, vào năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị, hoạt động tại 610 nhà trong 123 quốc gia trên thế giới. Không một ai có thể phủ nhận sự thành công và nổi tiếng của Mẹ Terêsa, dầu vậy, chính Mẹ phải thú nhận Mẹ đã trải qua một thời gian “đen tối và cay đắng” trong đời sống nội tâm. Mẹ thường xuyên cảm nghiệm một cách sâu lắng trong đau đớn rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ từ ngày khởi sự công việc phục vụ người nghèo cho đến cuối cuộc đời. Mẹ viết lại trong nhật ký, “Đức tin của tôi ở đâu – Trong sâu thẳm, tôi không cảm thấy gì cả, chỉ là sự trống vắng và đen tối. Ôi Chúa của con – Thật bất hạnh và đau đớn khi phải mang nỗi đau không tên – Con không có đức tin. Con không dám thốt nên lời và dàm nghĩ tới điều đó – điều làm con đau khắc khoải không thành tiếng được.”

* * *

Vào thế kỷ thứ 16, thánh Têrêxa Avila cũng trải qua kinh nghiệm tương tự nên đã thốt lên, “Vì Chúa xử với bạn Chúa theo cách thức này, nên không lạ gì Chúa thật ít bạn.” Đau khổ và đi trong bóng đêm đức tin là một mầu nhiệm mà không ai có thể diễn tả thay cho chúng ta được. Cuộc đời con người vẫn là những bước lần mò dò dẫm đi tìm hạnh phúc, sự an toàn và ý nghĩa cho từng ngày sống của mình. Chẳng lúc nào chúng ta nghĩ ngơi đi tìm sự nghĩ ngơi cho tâm hồn; chẳng ngày nào chúng ta dừng chân thoã mãn với những gì chúng ta kiếm gặp. Tìm được một nguồn sáng, rồi cũng lu mờ đi sau một giấc ngũ; gặp được niềm vui, rồi cũng chóng tàn khi bước qua một ngày mới. Phận con người là thế đó, cứ đi tìm mãi, tìm mãi một chỗ yên nghĩ, một niềm vui vĩnh cữu, một sự an toàn tuyệt đối… nhưng gặp rồi lại mất, nắm rồi lại vuột, cảm nghiệm rồi lại trơ trơ. Nhưng lạ thay, con người vẫn khát vọng đi tìm, và đi tìm… và còn đi tìm là còn đức tin và còn hy vọng. Và đúng như thế, chỉ có đức tin mới thúc đẩy chúng ta cố gắng, hy sinh, vươn tới, đi tìm. Chính đức tin thúc đẩy ta không bỏ cuộc, gạt qua thất bại để dấn bước lên phía trước dù phía trước ấy là một đêm đen không ánh sáng.

Bạn thân mến, Mẹ Têrêxa đã trải qua kinh nghiệm và thử thách đen tối trong hành trình đức tin của mình. Nhưng chính nhờ đức tin mà Mẹ vẫn dấn thân, dù mình không được sự an ủi. Đó chính là hành trình đức tin của mỗi chúng ta. Đã có ít nhất một ngày nào đó trong đời mình, bạn và tôi cũng trãi qua kinh nghiệm tương tự. Ít nhất đã có một lần, bạn và tôi cũng đã đi qua một kinh nghiệm thật đáng sợ nhưng vẫn tín thác và trung tín với Chúa dù chẳng được ơn an ủi. Hôm nay chúng ta cùng tạ ơn Chúa qua những bài học này, cuối cùng cũng chỉ vì yêu mà Ngài đào luyện chúng ta để chúng ta nên giống Ngài hơn mà thôi. Tin rằng, đó cũng chính là quà tặng đức tin mà Ngài trao ban.  

Lạy Chúa,

Xin giúp con lòng can đảm đi vào đêm tối với Chúa.

Xin cho con lòng xác tín rằng chỉ vì yêu con mà Chúa dẫn con vào mầu nhiệm đêm tối.

Xin cho con mở lòng đón nhận đêm tối, sự khô khan, sự dững dưng, sự không chắc chắn mà con đối diện hằng ngày.

Xin cho con lòng trung thành và kiên trì cho đến cùng nhất là khi con hành trình một mình trong đêm tối.

Xin cho con niềm phó thác và xin vâng; lòng can đảm dâng hiến đời con trong mọi hoàn cảnh đêm tối.

Xin cho con đừng bao giờ tháo lui, bỏ chạy, hay tìm một nguồn ánh sáng nào khác ngoài đêm tối con đang đối diện.

Lạy Chúa, dù con không hiểu gì, nhưng xin củng cố ý chí con. Cho con tin rằng, đêm tối này lá quà tặng Chúa ban cho con một cách đặc biệt nhất để con được hoàn toàn chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa một cách thực nhất và trọn vẹn nhất.

Mẹ ơi, xin giúp con đi cho đến cùng hầm tối này. Và cho con niềm hy vọng để con đi cho đến cùng. Amen.

Fr. Huynhquảng

http://www.seattletimes.com/news/mother-teresas-dark-night-of-the-soul-produced-luminous-life/

http://www.biography.com/people/mother-teresa-9504160#religious-calling