Ngã Ngựa

Posted by

“Thưa Cha, từ ngày chồng con bị tai biến, con chới với như là cuộc ngã ngựa.” Người phụ nữ ở trạc tuổi trung niên chia sẻ với vị linh mục. Lắng nghe thêm, câu chuyện “ngã ngựa” ấy được hiểu như sau.

Thiên Chúa không bao giờ muốn mất chúng ta

Cả hai vợ chồng lập gia đình gần hai mươi lăm năm và có ba người con ngoan ngoãn, học giỏi và tham gia những sinh hoạt Thiếu nhi, Huynh trưởng trong giáo xứ. Hai vợ chồng vẫn tham dự thánh lễ Chúa Nhật, lễ trọng như mọi Kitỗ khác, và dành tất cả thời gian còn lại để kiếm tiền, mua nhà, mua xe như nhiều gia đình khác ở tại Hoa- Kỳ. Sau một thời gian đi làm công, họ dành dụm vốn liếng và mua tiệm Nail; và từ đấy, họ làm chủ một tiệm Nail như trong kế hoạch của họ. Thực ra, chuyện từ việc làm thợ Nail cho đến sự chuyển thành chủ Nail cũng nhằm mục đích là lo lắng cho gia đình và tương lai ổn định cho con cái. Người vợ tâm sự: “Chúng con cố gắng thật nhiều, làm thật nhiều và hy vọng khi các con lớn lên đi đại học thì chúng con sẽ làm bớt lại, lúc đó chúng con sẽ dành thời gian cho nhau, và dành thời gian cho con cái, và như thế chúng con có thể nghỉ ngơi đôi chút.” Nhìn vị linh mục người vợ tiếp tục tâm sự, “Nhưng hoá ra là ngược lai, bây giờ con cái đã lên đại học rồi, con không thể ngừng lại mà còn phải làm nhiều hơn, gánh lại nặng hơn, và lo âu càng chồng chất. Chúng con bị ‘ngã ngựa.’ Giờ đây, hơn lúc nào hết, chúng con chỉ biết chạy đến với Chúa. Chúng con gần Chúa hơn. Cuộc té ngã của chúng con như thức tỉnh chúng con, làm mắt chúng con mở ra. Chúng con bây ở bên nhau nhiều hơn, dành thời gian cho nhau nhiều hơn và cầu nguyện đọc kinh với nhau nhiều hơn. Chúng con không còn đến với nhau vì công việc, vì kế hoạch, nhưng đến với nhau vì tình yêu, vì cần chăm sóc cho nhau. Chúng con từ từ cảm nghiệm được tình yêu và hiểu ý nghĩa của nó một cách xác thực hơn.” → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Câu chuyện thương tâm trên diễn tả đúng tâm trạng và hoàn cảnh thật của con người chúng ta. Là con người, chúng ta bị giới hạn bởi không gian và thời gian, tương lai và dự kiến của chúng ta không ở trong tầm tay của chúng ta và chúng ta không hoàn toàn có khả năng làm chủ lấy chúng.

Lời tâm sự của người vợ trong câu chuyện có phần tương tự như dụ ngôn của Chúa Giêsu trong Phúc Âm thánh Luca 12:13 -21, “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng : ‘Mình phải làm gì đây ? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!’ Rồi ông ta tự bảo: ‘Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!’ Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?’ Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”

Dụ ngôn trong Phúc Âm của thánh Luca nêu trên không chỉ nhắm đến khía cạnh mời gọi con người chúng ta cẩn tỉnh trước của cải thế gian, nhưng đó cũng là lời mời gọi chúng ta tín thác tương lai và cuộc đời chúng ta cho Chúa. Đó là dụ ngôn nói lên sự lo lắng của Thiên Chúa dành cho chúng ta nhất là khi chúng ta bị mù loà trước những công việc và mãi mê đi kiếm tìm những gía trị trần gian. Đó cũng chính là một dụ ngôn của tình yêu thương xót không phải chỉ đón nhận khi đã lầm lỗi nhưng còn phòng ngừa để có cơ hội tránh xa thảm hoạ trong tương lai. Khi chúng ta đi xa Chúa và tưởng chừng như Chúa mất chúng ta, lúc ấy có nhiều người nằm trong những hoàn cảnh “ngã ngựa” ấy lại nhận ra chúng là những hồng ân cao quý. Nói một cách khác, Thiên Chúa không bao giờ muốn mất chúng ta; Ngài không bao giờ muốn chúng ta vĩnh viễn không được diện kiến tôn nhan Ngài; vì lẽ đó, tựa như một vài cây roi cha mẹ dùng để giáo dục con cái, Thiên Chúa cho phép chúng ta bị “ngã ngựa” để chúng ta được thức tỉnh và quan trọng hơn là để chúng ta được ôm ấp vào Thánh Tâm của Ngài.

Thế mới rõ, tình yêu thương xót không chỉ nhắm vào khía cạnh chữa lành những vết thương đã rỉ máu, nhưng tình yêu thương xót cũng nhắm vào khía cạnh ngăn chặn và phòng ngừa để tránh bị thương tích trong cuộc đời. Tình yêu của Thiên Chúa yêu chúng ta không chỉ nhắm đến khía cạnh quá khứ đời chúng ta nhưng còn và quan trọng hơn chính là bảo đảm cho tương lai của chúng ta được viên mãn với Ngài. Thực là như thế, chính vì tương lai của chúng ta mà Thiên Chúa đã dùng mọi phương thế, kể cả cái chết của Con Ngài, Đức Giêsu, để bảo đảm cho chúng ta có một tương lại chắc chắn.

Sống Năm Thánh Lòng Thương Xót chính là sống tinh thần phó thác tất cả mọi khía cạnh hoàn cảnh của chúng ta: Quá khứ, hiện tại và tương lai. Thiên Chúa luôn đồng hành và dìu dắt chúng ta từng bước đi để chúng ta được ở với Ngài mãi mãi.

Fr. Huynhquảng

 

 

Thánh Lễ – The Mass 1-10

Posted by
  1. What is liturgy?

Literally, liturgy comes from Greek (leitourgia) meaning, “the people’s work.” In religion means, liturgy is Christians’ work. In liturgy, the people of God make Christian tradition, belief, and faith alive in their lives and in the world.

  1. Phụng vụ là gì?

Phụng vụ là việc thờ phượng chính thức của Giáo Hội. Theo tiếng Hy lạp, leitourigia, nghĩa là “công việc của dân chúng”. Nhưng theo nghĩa tôn giáo, phụng vụ là việc thờ phượng của người Kitô hữu. Khi cử hành phụng vụ, dân Chúa sẽ làm cho truyền thống, niềm tin và đức tin của mình trở nên sống động hơn trong đời sống của họ và ở khắp nơi trên thế giới.

  1. Is liturgy solely Mass?

No, Mass is one type of liturgy. Liturgy includes three elements: Rituals, Prayers, and Communion.

  1. Chỉ có Thánh Lễ mới là phụng vụ phải không?

Không. Thánh Lễ chỉ là một trong những loại hình phụng vụ của Giáo Hội. Phụng vụ bao gồm ba yếu tố sau: Nghi lễ, lời nguyện, và sự hiệp thông cộng đoàn.

  1. What are other types of liturgy?

Mass, Liturgy of the Hours (prayer books used by priests and religious brothers and sisters), all the sacraments, ritual blessings and other rites found in the Book of Blessings.

  1. còn loại hình phụng vụ nào khác không?

Ngoài Thánh Lễ, phụng vụ còn gồm: Phụng vụ Giờ Kinh, các bí tích, nghi thức ban phép lành và những nghi thức khác trong Sách Các Phép.

  1. What is the Mass?

The Mass is the central liturgical ritual in the Catholic Church where the Eucharist is consecrated daily as Christ commanded his disciples, “Do this in memory of me” (Lk 22:19). Celebration Eucharist, which Jesus instituted at the Last Supper, is “the source and summit of the Christian life.”

  1. Thánh Lễ là gì?

Chóp đỉnh của phụng vụ là Thánh Lễ mà Hội Thánh cử hành hằng ngày theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lk 22:19). Cử hành Thánh Thể do Chúa Giêsu thiết lập trong Bữa Tiệc Ly, là bí tích cao trọng nhất của đời sống Kitô hữu.

  1. How many parts are there in the Mass?

There are two main parts: Liturgy of the Word and Liturgy of the Eucharist. In addition, two framing rites are Introductory Rites and Concluding Rite.

  1. Thánh Lễ gồm mấy phần?

Thưa gồm hai phần chính là Phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Ngoài ra, trước phần Phụng vụ Lời Chúa là Nghi thức đầu lễ và sau phần phụng vụ Thánh Thể là Nghi thức kết lễ.

Học Hỏi về Thánh Lễ – Understanding the Mass

Posted by

Lời Giới Thiệu

“Việc cử hành Thánh Lễ, với tính cách là hành động của Ðức Kitô và của dân Thiên Chúa, được tổ chức theo phẩm trật, là trung tâm toàn bộ đời sống Kitô giáo, đối với Hội Thánh toàn cầu, cũng như Hội Thánh địa phương và đối với từng tín hữu. Thật vậy, trong việc cử hành này, hành động Thiên Chúa thánh hóa thế gian trong Ðức Kitô, và việc phụng tự mà nhân loại dâng lên Chúa Cha, để thờ lạy Ngài nhờ Ðức Kitô, Con Thiên Chúa trong Chúa Thánh Thần, đạt tới điểm cao nhất. Hơn nữa, trong Thánh Lễ, các mầu nhiệm ơn cứu chuộc được kính nhớ qua chu kỳ một năm, khiến mầu nhiệm này được hiện tại hoá một cách nào đó. Còn các hành động thánh khác và tất cả các công việc của đời sống Kitô hữu đều gắn liền với Thánh Lễ, phát xuất từ Thánh Lễ và hướng về Thánh Lễ.” (Qui chế Tổng quát Sách Lễ Roma #16).

Với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa đã chọn gọi, gia đình đã nuôi dưỡng, quý giám mục, linh mục, giáo sư đã truyền dạy nâng đỡ, quý ân nhân bạn hữu đã đồng hành chia sẻ, cộng đoàn dân Chúa yêu thương cầu nguyện, món quà Học Hỏi về Thánh Lễ, ngắn gọn và gần gũi, được gởi tặng đến Giáo Đoàn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam thuộc Giáo phận St. Petersburg và mọi người thân nhân dịp kỷ niệm năm năm hồng ân Linh mục.

Học Hỏi về Thánh Lễ được biên soạn dưới dạng hỏi thưa bằng hai ngôn ngữ Anh-Việt, phần lớn được dựa vào hai nguồn tài liệu Modern Liturgy Answer the 101 Most-Asked Questions about Liturgy do Nick Wagner (Resource Publications Inc., 1995), và The Mass do Edward Sri (Ascension Press, 2011).

Hy vọng tài liệu Học Hỏi về Thánh Lễ giúp mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về Thánh Lễ, nhằm yêu quý Thánh Lễ tha thiết hơn, và đủ sức mạnh để hiến lễ mỗi người được dâng đẹp hơn.

Nguyện  xin Chúa Kitô Linh Mục Tối Cao ban tình yêu và bình an cho anh chị em.

St. Petersburg, ngày 18 tháng 5 năm 2018

Linh mục Gioan Nguyễn Vũ Việt

Quản nhiệm Giáo Đoàn Các Thảnh Tử Đạo Việt Nam

Thanh Kẹo Gum

Posted by

Vào mùa hè năm 1997, một sinh viên của lớp 2A18 của trường Đại học Huflit, Sài gòn, tham gia một khoá huấn luyện quân sự tại Công viên Gia Định. Vào giờ giải lao, các sinh viên tụ tập lại bóng cây nghỉ ngơi, ca hát, tán ngẫu. Sau một vài ngày đầu, chàng sinh viên bắt đầu làm quen với địa điểm và cũng bắt đầu chú ý tới môi trường xung quanh của Công viên. Chàng cũng bắt đầu quan sát và nhận thấy bên cận những người lớn bán Gum, kẹo, nước trà đá, cũng có một số trẻ em buôn bán những món này.

Một buổi trưa nọ, một chú bé bán Gum tiến đến mời chàng sinh viên mua Gum; vốn là sinh viên nghèo từ tỉnh lên thành phố, việc mua một thanh Gum cũng là điều cần đắn đo suy nghĩ cho buổi cơm ở quán xích-lô cho chiều nay. Dẫu vậy, ánh mắt và lời mời của đứa bé đã thuyết phục được cậu sinh viên. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

“Em bán Gum nhưng có bao giờ em ăn chưa?” Chàng sinh viên hỏi.

“Làm gì có anh. Tiền đâu mà ăn.” Với giọng điệu ngạc nhiên, cậu nhanh nhẹn đáp.

“Thế em bán Gum bao lâu rồi?”

“Dạ gần hai năm.”

“Mùa hè em bán thêm có phải không?” Chàng sinh viên tiếp tục.

“Không anh, em bán luôn. Đây là “nghề” của em.”

“Vậy là em không đi học, đúng không? Quê em ở đâu?”

Như một giọt nước tràn ly, đứa bé chân thành chia sẻ. “Em ở Thái Bình. Ba em mất, gia đình em có ba anh em. Em là con lớn. Má không có tiền cho tụi em đi học. Em xin mẹ cho em vào Nam để kiếm tiền. Em đi với một nhóm bạn. Hy vọng giúp tiền cho em của em đi học.”

Khoé mắt chàng sinh viên cay cay khi nghe em bé chỉ mới trên mười tuổi mà đã phải bôn ba kiếm sống và lo cho mẹ, cho em.

“Em bán cho anh hai cây” Chàng sinh viên lấy tiền đưa cậu bé và tiếp, “Cây này cho em, cây này cho anh. Em ăn đi.” Cậu bé dấu tiền vào túi áo và mở đôi mắt ngạc nhiên. “Sao, anh cho em?!”

“Ừ, đúng vậy! Em ăn thử cho biết nó ngon không.”

Cậu bé lúng túng mở giấy kẹo Gum như tỏ rõ cậu chưa bao giờ nếm hương vị của những cây Gum mà cậu hằng ngày phục vụ cho khách hàng.

Tiếp vào những ngày sau, cậu bé tìm đến chàng sinh viên để trò chuyện, cậu bé tâm sự.

“Mỗi tháng, em phải kiếm ít nhất 140 ngàn đồng. Em phải gởi về cho mẹ một nửa, còn một nửa em trả cho nhà trọ và ăn uống. Có những lúc em không có đủ để gởi về cho mẹ, em lo lắm vì không biết mẹ và các em sẽ ra sao.” Chàng sinh viên vẫn tiếp tục lắng nghe.

Sau hơn một tuần lân lê với nhau vào những giờ nghỉ, chàng sinh viên như ý thức hơn về sứ mạng của mình – giới thiệu đức tin cho cậu bé. Chàng cố ý để lộ cây thánh giá bằng I-nóc cho cậu bé thấy. Cậu bé thắc mắc.

“Anh đeo thánh giá dẹp quá” cậu bé khen.

“Ừ, em thích không? Bà nội tặng cho anh đó.” Chàng sinh viên đáp.

“Em ở gần nhà thờ, nhà thờ có cây thánh giá to lớn lắm. Hằng ngày em nghe tiếng chuông, em muốn đi lễ vì tụi bạn nó đi hằng ngày, nhưng mẹ em không cho vì sợ…” Cậu bé ngập ngừng không dám nói. Chàng sinh viên cũng có thể đoán hiểu được sự e sợ của người dân sống tại Miền Bắc dưới sự dòm ngó của chính quyền vô thần.

Cậu bé tiếp, “Làm cách nào để em đi lễ được, em muốn lắm.”

Tới đây, chàng sinh viên nhìn cậu bé âu yếm và đám. “Anh sẽ giúp em nếu em muốn.”

Thế là từ ngày ấy, khoảng 30 phút giải lao, hai anh em tìm một nơi riêng để “học đạo.” Cậu bé vui và hớn hở như đã tìm được một kho tàng mà lâu nay hằng mong mỏi. Những kinh quen thuộc, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, những câu hỏi đơn sơ chân thành của cậu bé về dấu thánh giá, về Mẹ Maria, về Chúa Ba Ngôi dần dần, mỗi ngày một ít được giới thiệu và chia sẻ.

Cuối cùng, cậu bé hỏi, “Anh cho em theo đạo được không?”

“Được” Chàng sinh viên đáp. “Nhưng tốt hơn em nên được rửa tội trong nhà thờ, ví dụ như nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng.”

“Không, em muốn anh rửa tội cho em, vì em sợ là em không thể tới đó được. Và em cũng không biết ai ở đó.” Với tấm lòng chân tình của đứa bé đủ trí khôn đã thúc dục chàng sinh viên suy nghĩ nghiêm túc về lòng khao khát của đứa bé.

Một vài ngày sau, chàng sinh viên và thêm một cô bạn Công giáo, đưa cậu bé ra một vũng nước tại Công viên Gia Định, bảo cậu bé tuyên xưng đức tin một Chúa Ba Ngôi của Giáo hội Công giáo và cậu bé đã được rửa tội. Quà tặng cho cậu bé chính là cây thánh giá I-nóc, và tiệc mừng là một thanh keo Gum cho cả ba.

* * *

Mẹ Têrêsa nhắn nhủ, “Mang Chúa đến cho người và mang người đến cho Chúa.” Đó chính là sứ mạng của người Kitô hữu – người mang Chúa – mang Lòng Thương Xót. Xã hội chúng ta vẫn còn nhiều mãnh đời éo le như thế lắm. Một thanh kẹo Gum đã liên kết hai con người với nhau; một thanh kẹo Gum đã dẫn họ đưa họ gặp nhau trong đức tin Công giáo; và cũng chính thanh kẹo Gum đã làm cho tình thương xót được biểu lộ.

Ước mong em bé ngày nào giờ đây là một thanh niên thành đạt và nếu em đọc được những lời tâm sự này, thì xin em nhận nơi anh lời cám ơn vì sự đơn sơ đón nhận Đức tin của em. Nhờ em, anh đã học và tập sống lòng thương xót trong cuộc đời mình.

Fr. Huynhquảng

Khối óc, Con Tim và Thân Xác

Gia đình thật vui, đặc biệt vợ của ông P. không thể dấu được hết niềm vui khi cho Cha xứ biết ngay:

“Chồng con mới về sau hơn năm năm ở tù. Cám ơn Cha đã cầu nguyện cho anh.”

“Tôi muốn đến thăm anh ấy có được không?” Cha xứ đáp.

“Dạ xin mời Cha.” Người vợ phấn khởi mời Cha xứ.

Vài ngày sau, cha xứ đến thăm gia đình người cựu tù nhân. Ông tỏ ra vui tươi khi gặp Cha xứ; tuy vậy, niềm vui của ông nhanh chóng tan dần để nhường cho mối lo âu không tránh khỏi hiển hiện trong thái độ và lời nói.

“Thưa Cha, trở về…. chẳng phải dễ chút nào!”

“Xin ông vui lòng chia sẻ thêm.” Cha xứ khuyến khích.

“Con hận lắm, hận cái thể chế cầm quyền này, quá tàn nhẫn, quá vô nhân đạo… con đã học được điều gì sau năm năm ở tù? Thưa không. Không một điều tốt, ngược lại chỉ toàn là sự xấu xa cặn bã của xã hội. Trí nhớ con mất, trái tim con chai lì, và thân xác con tiều tuỵ. Dầu sao con cũng đã được về, nhưng cái khó nhất của con bây giờ là sự trở lại với gia đình, với con cái, với bạn bè, với cộng đồng. Con thấy khó quá vì mọi sự đã thay đổi.”

Vị linh mục nhìn người cựu tù nhân với ánh mắt thông cảm như mời ông chia sẻ tiếp: “Trong những muôn vàn khó khăn ông đang đương đầu, theo ông, điều khó nhất cho ông lúc này là điều gì?”

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

“Thưa, đó là con thấy rất khó để đền đáp tình thương của người vợ đã dành cho con. Trong năm năm qua, chỉ khoảng năm cuối tuần cô ấy không thể đến thăm con, còn lại tất cả các Chủ Nhật, cô đều lái xe hơn ba tiếng để đến thăm con. Tình yêu của vợ con dành cho con quá lớn và giờ đây khi con trở về, con rất lúng túng trước tình yêu ấy… con không biết mình sẽ bắt đầu yêu vợ mình như thế nào? Con nên làm gì để chứng tỏ rằng con yêu vợ con? Con muốn bù đắp cho cô ấy thật nhiều, nhưng con bối rối không biết bắt đầu từ đâu? Vì lẽ đó, con trở nên cáu gắt, nóng giận và không kiên nhẫn với nàng trong những ngày qua… con yêu nàng lắm, nhưng con đã gây đau khổ cho nàng thật nhiều.”

Vị linh mục nhìn người đàn ông với ánh mắt cảm thông dịu dàng hỏi:

“Ông lái xe lại chưa?”

“Dạ rồi.” Người cựu tù nhân đáp.

“Khi ông lái xe lên đường cao tốc, anh hoà nhập vào con đường đó bằng cách nào?” “Dạ, con phải nhập vào từ từ, phải nép vào lề, mở đèn xi-nhan, nhìn kính chiếu hậu và

từ từ tăng tốc dộc theo đường cao tốc.”

“Ông nghĩ thế nào nếu ông cho xe chạy thật nhanh và tạt ngang vào đường cao tốc?” Cựu tù nhân đáp,

“Không thể được, tai nạn sẽ xảy ra nếu con lái xe như thế.”

Linh mục nhìn ông đáp, “Ông cũng thế, ông cần có thời gian để hoà nhập, để nhìn đường, để mở đèn xi-nhan, và dần dần tăng tốc. Ông biết hậu quả của việc tăng tốc và cắt ngang xen vào đường khi hoàn cảnh chưa cho phép….  Ông cần thời gian để những vết thương thể xác và tinh thần của ông được chữa lành!”

* * *

Từ tác phẩm Breating Under Water: Spirituality and the Twelve Steps của tác giả Richard Rohr, trong tiến trình chữa lành và bình phục thể xác và tâm hồn, ba bộ phận sau đây nhất thiết cần phải được quan tâm mở rộng: Đầu óc bảo thủ, trái tim khép lại, và cơ thể phòng thủ (tr.8). Nếu một trong ba yếu tố ấy không được mở tung ra, thì tiến trình chữa lành thể xác và tinh thần sẽ không có hiệu quả.

Một người có đầu óc bảo thủ vẫn thường khoanh vùng những suy nghĩ của mình trong một phạm vi nhất định mình không muốn, hay không dám suy nghĩ ra khỏi phạm vi ấy. Khốn thay, vì bị khoanh vùng trong một phạm vi nhất định, nên sự suy nghĩ và nhận định về hoàn cảnh xã hội mất đi sự khách quan. Tiến trình hồi phục sẽ rất khó khi mình vẫn sống dưới lớp vỏ bảo thủ. Cũng vậy, một người có trái tim khép kín thường rất lúng túng khi yêu ai bởi vì họ cũng rất khó khăn cảm nghiệm được tình yêu của người khác. Trái tim trở nên khô cứng không phải vì họ không yêu, nhưng bởi vì họ đóng kín trái tim mình lại theo những phạm vi cố định mà khối óc đã áp đặt cho họ. Sự cáu gắt nóng giận không phải là điều họ muốn, nhưng đó là di chứng của trái tím bị khép kín. Cuối cùng, một cơ thể phòng thủ thường hay biểu hiện sự không cân bằng trong việc coi thường thân xác mà chỉ chú trọng đến khía cạnh tinh thần của khối óc và con tim. Từ chối những nhu cầu căn bản của thân xác con người (ăn uống, nghỉ ngơi, thể dục…) mà chỉ miệt mài đi tìm sự bình an trong tâm hồn sẽ dẫn đến sự mất cân bằng và làm cho tiến trình hồi phục chữa lành bị khập khiễng. Thiên Chúa đã làm người không phải chỉ làm cho có trong thân xác để chỉ nhằm cứu rỗi linh hồn mà thôi, nhưng Thiên Chúa cũng muốn thân xác chúng ta cũng được vinh hiển với Ngài (Cf. Phiplip 3:21). Nếu chỉ chú tâm thường xuyên vào việc thực hành ăn chay, hãm mình, diệt dục một cách tiêu cực nhằm từ chối những nhu cầu căn bản của thân xác mà lãng quên chăm sóc cho thân xác một cách hợp lý, đó chính là sự biểu hiện không cân bằng giữa ba thành phần khối óc, tâm hồn, và thân xác.

* * *

Trở lại cuộc gặp gỡ trên, người cựu tù đã gặp khó khăn khi trở lại cuộc sống, đặc biệt ông không biết bắt đầu như thế nào với tình yêu mà vợ ông đã và đang tiếp tục yêu thương ông. Lối suy nghĩ bảo thủ của ông về tình yêu là phải làm việc này làm việc khác để chứng tỏ mình xứng đáng. Theo ông, yêu là phải chứng tỏ bằng hành động, phải có thành quả, phải làm việc này việc nọ. Chính lối suy nghĩ này đã không giúp ông thoát ra được phạm vi yêu thương theo quan niệm của ông. Bởi vậy, trái tim ông cũng khép lại trước tình yêu của người vợ – một tình yêu vô điều kiện đã được thể hiện trong suốt năm năm qua. Khối óc cho ông biết là vợ ông yêu ông, ông cũng yêu vợ ông, nhưng trái tim không cảm được sự nhận và cho của tình yêu, nên ông vẫn cáu gắt vì trái tim ông vẫn thiếu hụt. Trở về từ nhà tù, ông gặp nhiều trở ngại đau yếu trong thân xác, vì lẽ đó, ông cũng không thể giúp vợ ông những công việc mà ông từng đã làm một cách dễ dàng như trước đây. Với một thân xác đau yếu, ông thường phàn nàn về thân xác mình. Ông nghĩ rằng, ông sẽ nên người vô dụng nếu ông không làm được những công việc như ông muốn. Ông không chấp nhận chính mình và quên đi yếu tố giới hạn của thân xác, ông lại lao vào đi kiếm tìm sự hạnh phúc chỉ bằng khối óc và con tim. Hậu quả của sự mất cân bằng và hài hoà của ba thành phần đã làm cho cựu tù nhân thêm buồn bực, nóng giận và bất mãn.  

Trong cuộc phỏng vấn dịp kỷ niệm Ngân Khấn Linh mục của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 31-5-2016, ngài suy nghĩ về sức khoẻ của Ngài như sau: “Sức khoẻ tôi khá hơn, nhưng mong manh. Tôi không còn sử dụng sức khoẻ. Nhưng phải nương theo sức khoẻ. Và phải biết chăm sóc cho nó. Đó là công bằng. Chị sức khoẻ đã được Chúa ban để giúp tôi bao nhiêu năm nay. Giờ đây đến lượt tôi phải quan tâm chăm sóc cho chị.” 

Đó cũng là lời mời cho chúng ta sống Năm Thánh Thương Xót, chúng ta được mời gọi biết thương yêu khối óc, con tim và thân xác của chúng ta. Quả đúng, lòng thương xót của Chúa dành cho chúng ta không chỉ dành ở đời sau, nhưng thực ra ngay cả ở đời này, chỉ với điều kiện chúng ta cần mở ra để đón nhận.  Vì Thiên Chúa không chỉ đến để cứu phần hồn mà thôi, nhưng còn cả phần xác. Chúng ta đã chẳng tuyên xưng “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại” trong Kinh Tin Kính đó sao?

Fr. Huynhquảng

Kẻ thù giấu mặt

Tác giả của tập sách Simple Path to Union with God của cộng đoàn Missionary of the Cross do Fr. Jordi Rivero sáng lập đã chia sẻ kinh nghiệm sau nhằm mời gọi chúng ta tin tưởng vào sức mạnh chữa lành của Chúa dành cho mỗi chúng ta, đặc biệt trong năm thánh Lòng Thương Xót.

* * *

Cứ mỗi lần tôi được mời nói chuyện trước công chúng, trong tôi xuất hiện sự sợ hãi hầu như làm tôi tê liệt. Ban đầu, tôi nghĩ là đây là phản ứng của sự nhút nhát, bẻn lẻn, nhưng sau khi nhiều lần cầu nguyện và thinh lặng dưới Thánh Giá Chúa, tôi khám phá trong tôi có thật nhiều nỗi sợ hãi. Tôi khám phá ra rằng: Nỗi sợ hãi làm đảo lộn những trật tự trong con người tôi; nỗi sợ hãi làm che đậy những sự thật khát vọng ẩn sâu bên trong tim tôi và bao phủ bằng lớp võ bộc “nhút nát, bẻn lẻn.” Vì lẽ đó, từ thời niên thiếu cho đến hôm nay, tôi đã giấu và không thổ lộ những nổi sợ hãi này với ai, và dồn nén chúng trong lòng mình. Hậu quả là tôi chỉ nhắm vào việc “đối phó” trong các mối quan hệ, hoặc tôi giữ khoảng cách, hoặc tôi im lặng, hoặc tôi không giao thiệp trong những mối quan hệ mà tôi thấy sự “nhút nhát, bẻn lẻn” xuất hiện trong con người tôi.

Sự sợ hãi là một thái độ hãm hại chúng ta. Nó làm cho chúng ta yếu nhược. Nó làm chúng ta tê liệt.


Giờ đây, sau khi đã thừa nhận và khám phá ra trong tôi có nhiều nỗi sợ hãi, tôi dần dần gọi được tên cho những nỗi sợ che mặt rất lâu trong con người tôi. Tôi thừa nhận tôi sợ bị từ chối; tôi sợ bị chê cười khinh khi, tội sợ phạm sai lầm. Bỗng tôi tự hỏi chính mình: Tại sao tôi lại sợ bị từ chối? Tại sao tôi lại sợ bị cười khinh? Tại sao tôi lại sợ bị phạm sai lầm? → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Trong sự tĩnh lặng dưới chân Thánh Giá, một ngày kia hàng loạt câu hỏi này đã dần dần cho tôi câu trả lời. Tôi thấy được những sự kiện của tuổi thơ làm cho tôi sợ hãi tái xuất hiện như cuốn phim về tuổi ấu thơ của tôi. Tôi thấy mẹ tôi tỏ ra rất giận dữ trước những lầm lỗi của tôi; không chỉ đối với riêng tôi, mà tất cả những ai trong gia đình nếu có điều gì sai sót mẹ tội dễ dàng nổi giận. Tôi thấy lại nỗi sợ hãi của tôi – là một đứa bé trước những phản ứng giận dữ của người mẹ. Khi tôi bắt đầu “chiếu lại” những hoàn cảnh ấy trong trí nhớ tôi, tôi cảm nhận từ trong tim tôi những cơn giận, sự căm ghét, dần dần tuôn ra như một dòng nham thạch của ngọn núi lửa phun ra. Sau khi những dòng nham thạch giận dữ căm ghét đã tuôn ra, tôi dần dần cũng nhận ra vết thương lòng của mẹ tôi: Một người mẹ vì vết thương lòng nên không đủ khả năng diễn đạt tình yêu dịu dàng của người mẹ dành cho con mình. Ánh mắt tôi chạm được ánh mắt của Chúa Giêsu với sự đồng cảm và thấu hiểu những vết thương mà tôi đã mang phải từ thời bé nhỏ cho đến hôm nay. Đồng thời, tôi cũng thấy ánh mắt Chúa cũng thấu chạm và ôm chầm mẹ tôi – con người cũng nhiều thương tích đáng được chữa lành. Với sự cảm nghiệm và bắt gặp ánh mắt nhìn yêu thương và đón nhận vô điều kiện của Chúa Giêsu trên Thánh giá, những cơn giận và sự sợ hãi bị ruồng bỏ, bị kết án, bị khinh thường dần dần tan đi; đồng thời, những vết thương lòng của mẹ tôi cũng được xoa dịu và chữa lành.

Sau biến cố được chữa lành này, tôi lại được Chúa tiếp tục soi rọi để nhìn thấy nguyên nhân của sự “nhút nhát, bẻn lẻn” của tôi như tôi đã đề cập trên. Bên Thánh giá, tôi được xem lại một sự kiện đã làm cho tôi dồn nén cơn giận với ba tôi từ bao năm qua. Ba và tôi cùng đi xem đội bóng của anh tôi. Tôi là người cổ vũ rất nhiệt tình cho anh tôi; mỗi khi có những pha tấn công hào hứng, và nhất là những lúc anh tôi có bóng, tôi hô hào rất lớn và nhiệt tình ủng hộ đội bóng anh tôi; sau những lần như thế, tôi liếc nhìn ba tôi để xem ông có tán thành việc tôi reo hò ủng hộ. Rất tiếc, suốt buổi đá bóng, ba tôi không hề nhìn tôi một lần. Tôi cảm thất xấu hổ và “quê” về điều đó. Khi ra về, ba tôi nhìn tôi và “phán” rằng những người ủng hộ và reo hò hôm nay thật vô duyên. Một cách gián tiếp, tôi bị kết án là muốn gây chú ý, muốn làm nổi, nhưng tôi không đáng và không nên làm như thế.

Hôm nay bên Thánh giá, tôi nhận ra rằng sự sai lầm mà Satan đã gieo vào tâm trí tôi: sự “bén lẻn, quê” là điều gì đó xấu, tệ và cần phải giấu đi. Và vì như thế, nên tôi đã giấu và dồn nén những cảm giác này không cho phép nó được tái hiện hay ai biết đến. Với cái nhìn yêu thương vô điều kiện mà Chúa cho tôi gặp được, những sự “nhút nhát và quê mùa” ấy giờ đây lại được đón nhận và chữa lành. Tôi chạm được ánh mắt của Chúa Giêsu Thánh Thể và hiểu rằng: Thực ra, một Thiên Chúa đang ở giữa con người vậy mà có ai để ý đến Ngài đâu? Nỗi đau của tôi được đồng cảm với nỗi đau của Chúa, tôi được chữa lành vì nhờ Chúa soi dẫn tôi thấy rõ nguồn gốc của sự “bén lẻn, nhút nhát” mà tôi đã dồn nén bao năm qua. Đồng thời, sự thiếu đồng cảm mà ba tôi dành cho tôi cũng có nguyên nhân chính là ba tôi cũng bị bỏ rơi và thiếu sự đồng cảm vui đùa mà ba tôi đã không hề nhận được từ ông nội.

Được chữa lành không có nghĩa là từ nay chúng ta không còn sợ hãi, nhút nhát. Nhưng được chữa lành có nghĩa là chúng ta có khả năng nhận ra và đặt tên cho những nỗi sợ hãi và những nhút nhát thiếu trật tự đó – chúng là nguyên nhân làm chúng ta bị tê liệt trong mối quan hệ với tha nhân. Khi gọi được tên chúng, chúng sẽ không có khả năng kiểm soát chúng ta, ngược lại, chúng ta lấy lại quyền làm chủ trên tạo vật (Gen 2:20). Thực vậy, Thiên Chúa muốn chúng ta có đời sống phong phú và vui tươi với khả năng làm chủ trên tạo vật, chứ không phải là nô lệ và sống trong sợ hãi (cf. Jn 10:10). Những lời nhắn nhủ sau đây của ĐGH Phanxicô củng cố niềm xác tín này, nhằm giúp chúng ta sống tự do và hạnh phúc với phẩm giá của người con Chúa:

Sự sợ hãi là một thái độ hãm hại chúng ta. Nó làm cho chúng ta yếu nhược. Nó làm chúng ta tê liệt. Người sợ hãi không dám làm điều gì và không biết sẽ làm điều gì. Người ấy chỉ tập trung bảo vệ chính mình để không cho điều tệ hại có thể xảy ra với mình. Sợ hãi làm cho chúng ta tự tôn ích kỷ và bị tê liệt. Vì lẽ đó, Chúa Giêsu đã nói với thánh Phaolô: ‘Đừng sợ hãi, hãy tiếp tục nói.’ Sợ hãi không phải là thái độ của người Kitô hữu, nhưng có thể nói, đó là thái độ của một con thú bị giam trong chuồng không có tự do, không có tự do để nhìn lên phía trước, để kiến tạo và làm điều thiện hảo… và luôn luôn nói không [để cho an toàn] (Bài giảng 15/5/2015).

Fr. Huynhquảng

Vết Thương Lòng

Posted by

Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày chúng ta tiến gần về với Chúa hơn. Càng tiến gần về với Chúa, con người chúng ta lại được thanh luyện cả thể xác lẫn tinh thần. Về phần xác, chúng ta được mời gọi chia sẻ và quan tâm đến những người bé mọn, vì Chúa Kitô hiện thân trong những con người bé mọn ấy. Khi quan tâm đến anh em mình, chúng ta cảm nghiệm sự liên đới với nhau trong mầu nhiệm Thân Thể Chúa Kitô. Khi chúng ta phục vụ anh em mình, chúng ta cũng phục vụ cho chính thân thể của chính chúng ta trong Thân Thể Chúa Kitô. Về mặt tinh thần, Thiên Chúa chữa lành chúng ta qua các bí tích, đặc biệt qua bí tích Thánh Thể và Hoà Giải. Vì dù muốn hay không, do Tội Nguyên Tổ, mỗi con người chúng ta điều vướng vào sự tội, sự đau khổ do chính bản thân mình hay do hoàn cảnh khách quan tác động, do môi trường mình lớn lên…tất cả những điều này đã để lại nhưng vết thương lòng.

Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi đến với Ngài để được chữa lành những vết thương mà mình đã gây ra hay bị vướng phải do hoàn cảnh mình lớn lên.

Trong tinh thần suy niệm về Thương Linh Hồn Bảy Mối, chúng ta cùng nhau chia sẽ câu chuyện sau đây trong tập sách Simple Path to Union with God của cộng đoàn Missionary of the Cross do Lm Fr. Jordi Rivero sáng lập. Dưới đây là lời tự thuật của một linh mục được chữa lành vết thương của đời mình. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

 

 

* * *

“Những gì còn sót lại trong tâm trí tuổi thơ của tôi chính là hình ảnh ba mẹ tôi ly dị, khóc than và đánh nhau. Trong tôi không có bất cứ hình ảnh nào về cuộc sống của họ với nhau, làm việc với nhau và yêu thương nhau. Vì lẽ đó, tôi đã lớn lên trong một căn nhà không có tình yêu. Tôi vẫn luôn luôn cô độc trong căn nhà ấy, tôi thường giữ im lặng, nếu chơi hay nói chuyện cũng chỉ một mình. Vì là trẻ con, tôi không biết phản ứng và hiểu rõ hoàn cảnh ấy như thế nào; nên tôi chấp nhận đau khổ sống không có tình yêu thương.

Mẹ tôi thường vẫn chứng tỏ tình yêu của bà cho tôi qua những cái ôm và hôn tôi, nhưng tôi vẩn thường từ chối. Tôi không hiểu tại sao trong tôi lại có phản ứng như thế; mãi cho đến hôm nay thì tôi khám phá ra được. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ tôi được ba tôi thương yêu vô điều kiện cả. Lớn lên với sự khô cứng trong mối quan hệ trong gia đình, kết quả là: Tôi cho rằng tôi không xứng đáng để được yêu – vì tôi không thấy một kinh nghiệm yêu thương vô điều kiện nào trong tuổi thơ của tôi. Chính vì thế, khi có ai yêu tôi, vết thương này lại xuất hiện: Tôi không xứng đáng được yêu; tôi không tin vào tôi có khả năng yêu thương; tôi không biết phương cách nhận và cho tình yêu; khi bắt đầu mối quan hệ với ai, tôi thường nghĩ, tôi cũng sẽ bị phản bội.

Ba tôi cũng đã vài lần hứa là khi ông trở về, ông sẽ mang những món quà này quà nọ cho tôi. Nhưng hoá ra không có gì. Ông chọn lối sống cho ông và chỉ tìm cách phục vụ cho ông thôi; ông không quan tâm đến mẹ con tôi. Hình ảnh mẹ tôi khóc thường xuyên trong phòng bà làm tôi khó quên được. Nhưng mãi đến hôm nay tôi mới nhận ra rằng. Ba tôi không thương mẹ và tôi cũng không phải vì lỗi của ba tôi – nhưng vì ba tôi cũng không nhận được tình thương từ ông nội – khi ba tôi phải ra khỏi nhà từ tuổi niên thiếu. Ba tôi lớn lên không có tình thương nên ông cũng không biết yêu và được yêu nghĩa là gì đối với mình. Ba tôi không biết làm thế nào để yêu tôi – đứa con của ông vì chính ông cũng chưa hề cảm nhận được tình yêu từ ông nội.

Trong khoảng thời gian dài đầu đời của tôi, tôi vẫn thường mặc cảm với các bạn nên tôi thường hay rút lui một mình trong các mối quan hệ. Tôi cảm thấy khó khăn khi làm bạn với họ. Nếu có tình bạn, thì cũng dựa vào công việc chứ không cảm nghiệm được tình yêu vô điều kiện dành cho nhau” (Tr. 43).

* * *

Lời chia sẻ chân tình của vị linh mục cho ta thấy một kinh nghiệm mà nhiều người trong chúng ta có thể liên đới: Vết thương lòng. Vị linh mục trên là nạn nhân. Đúng là như vậy. Nhưng ai đã gây ra cho ngài những vết thương ấy? Ba của ngài, ông nội ngài, ông cố ?… Nếu cứ tiếp tục truy tìm căn nguyên của vết thương lòng thì ta mới thấy rõ: Tội lỗi do ma quỉ gây ra là nguyên nhân của mọi thảm hoạ mà con người đang gánh chịu. Vì lẽ đó, lời an ủi và tha thứ của Chúa Giêsu cho tội nhân thật chí lý: “Này chị, ta không kết tội chi đâu” (Jn 8:11). Đó chính là sứ mạng của Đấng Thiên Sai, “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà kêu gọi người tội lỗi” (Mk 2:17).

Bảy Mối quan tâm chăm sóc phần hồn chính là sự quản diễn về mối quan tâm hàng đầu trong sứ mạng của Chúa Giêsu: Tìm mọi phương cách để cứu giúp một linh hồn. Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người. Thứ hai: Mở dậy kẻ mê muội. Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo. Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội. Thứ năm: Tha kẻ dể ta. Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta. Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Vị linh mục trên đây đã được chữa lành là nhờ vào lòng thương xót của Chúa và chính sự mở lòng của ngài với Chúa. Ngài đã trở nên đối tượng trực tiếp của Chúa Giêsu – Đấng mong muốn chữa lành cho vị linh mục. Thực ra, mỗi tội nhân chúng ta cũng là đối tượng mà Chúa Giêsu muốn chữa lành. Nếu chúng ta không là đối tượng của lòng thương xót của Thiên Chúa thì ai sẽ là đối tượng đây??? “Ta không đến để kêu gọi người công chính…” mà là chính chúng ta là tội nhân được Thiên Chúa kêu gọi để được chữa lành.

Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi đến với Ngài để được chữa lành những vết thương mà mình đã gây ra hay bị vướng phải do hoàn cảnh mình lớn lên. Những vết thương trong bản thân có nguồn gốc từ xã hội Việt Nam do chiến tranh, do thể chế chính trị, do nghèo đói… đã lây lan trong gia đình, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong giáo hội. Năm Thánh Thương Xót là thời gian đặc biệt cho ta được chữa lành với Chúa, với tha nhân và với chính mình. Lời mời gọi dành riêng cho mỗi chúng ta vẫn tha thiết vang lên: “Hãy đến với Ta, hỡi những ai lao đao và gánh nặng. Ta sẽ an ủi bổ sức cho” (Mt 11:28). Hãy đến và kể hết “bệnh tình” của mình với Chúa và phó mặc cho sự tài khéo khôn ngoan của “lương y” Giêsu. Hãy đến thôi, trong thinh lặng tĩnh nguyện để được chữa lành.

Fr. Huynhquảng

 

Thương xác bảy mối

Dù muốn hay không, mỗi chúng ta đều dần dần từ giả cuộc đời này. Tiếp theo cuộc đời này, có người tin về cuộc sống vĩnh cửu, có người không tin vào cuộc sống bên kia thế giới. Riêng đối với Giáo hội Công giáo, chúng tôi tin vào sự sống lại và sự sống đời sau. Một cách rõ nét, Tin Mừng Mathew chương 25, câu 31 – 46, cho ta thấy khung cảnh của Ngày Phán Xét – Ngày sẽ quyết định đến vận mệnh vĩnh cửu của mỗi người: Có được tiếp tục và chia sẻ trọn vẹn đời sống với Thiên Chúa hay mình sẽ bị tách ra khỏi đời sống của Thiên Chúa. Lạ thay, tiêu chuẩn mà Thẩm Phán Tối Cao đưa ra không phải là những tiêu chuẩn đời sống luân lý cá nhân mà chính là thước đo về khả năng quan tâm đến đồng loại. “Nếu các ngươi làm cho một người anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Theo thánh Thomas Aquinas, lòng thương xót cần phải được thể hiện một cách cụ thể đặc biệt qua việc giúp đỡ những người đói ăn, khát uống, rách rưới, tù đày, bệnh tật, lữ khách, và nô lệ. Cũng trong tinh thần ấy, để sống Năm thánh Thương xót, Giáo hội mời gọi con cái mình thực hành Mưới bốn mối, trong đó bảy mối quan tâm đến phần xác, và bảy mối quan tâm đến tinh thần. Hôm nay, chúng ta cùng nhau học hỏi và thực hành Thương Xác Bảy Mối.

Thứ nhất: cho kẻ đói ăn
Thứ hai: cho kẻ khát uống
Thứ ba: cho kẻ rách rưới ăn mặc
Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc
Thứ năm: cho khách đ
ậu nhà
Thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi
Thứ bảy: chôn xác kẻ chết

Trong bảy mối thương xót nhằm quan tâm đến thân xác, sáu điều đầu được bắt nguồn từ Tin Mừng Mathew 25:31 – 46. Điều thứ bảy được chính thức thêm vào thể ký thứ III, mặc dầu các Kitô hữu đã thực hành việc chôn xác kẻ chết đã có từ thời xa xưa, cụ thể sách Tobia đã ghi lại việc làm tốt đẹp này. Như thế, việc thực thi Bảy mối thương xác thực sự là việc sống Tin Mừng – cụ thể sống đức ái theo lời mời của Chúa Giêsu. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Nếu khách du lịch có dịp ghé thăm downtown thành phố St. Petersburg, Florida, một thành phố đẹp, hiền hoà và thoáng mát. Diện tích của nó chỉ vỏn vẹn 43 acres (mẫu Anh), thế nhưng nơi đây có đến ít nhất năm tổ chức từ thiện nhằm cung cấp thức ăn và chỗ ngủ cho người vô gia cư (homeless). St. Vincent de Paul, Salvation Army, Heaven Works, Daystar, St. Petersburg Free Clinic. Tại năm tổ chức này, cứ mỗi ngày họ cung cấp ít nhất là một bữa ăn tối cho những người vô gia cư. Đơn cử tại trung tâm St. Vincent de Paul, mỗi tối họ cung cấp khoảng 200 phần ăn, nước uống và tráng miệng. 200 phần ăn này từ đâu mà có? Ai cho? Có phải chính phủ nhà nước lo cung cấp? Thực ra, 200 phần ăn này là do sự đóng góp tự nguyện của một cộng đoàn tôn giáo hoặc tổ chức thiện nguyện nào đó. Mỗi tổ chức thiện nguyện này tự kêu gọi các thành viên với nhau. Ví dụ trong một giáo xứ, cha xứ thành lập ban Bác Ái cho người nghèo. Nhóm này kêu gọi thêm thành viên và xin đóng góp. Sau đó, họ sẽ liên lạc với ban điều hành của trung tâm St. Vicent de Paul để đăng ký lấy ngày đến phục vụ thức ăn cho những người vô gia cư ấy. Thông thường, mỗi nhóm có thể đăng ký giúp các bữa ăn tối với con số như trên khoảng 6 – 7 lần trong một năm. Và cứ như thế, những ngày khác, sẽ có những nhóm tổ chức khác cũng sẽ tình nguyện cung cấp thức ăn cho những người vô gia cư. Trong những dịp tổ chức những buổi ăn tối cho người vô gia cư, có những tổ chức cũng tặng thêm đồ dùng cá nhân như áo lạnh, kem đánh răng, dầu gội đầu… những đóng  góp nhỏ bé này đôi khi là do các em học sinh trong các lớp giáo lý nhằm giúp các em quan tâm đến người nghèo và thực hành Thương Xác Bảy Mối.

* * *

Một người homeless khi được hỏi nếu anh có được 200 dollar thì anh sẽ làm gì? Anh không chần chừ trả lời ngay, tôi sẽ thuê một nhà trọ để tôi được ngủ trên giường vì đã 14 năm qua, tôi chưa được nằm trên giường lúc nào cả. Thế mới biết, dù là một nước văn minh và giàu có như nước Mỹ, thế nhưng người thiếu ăn và không nhà ở vẫn còn rất nhiều. Thành phố St. Petersburg chỉ là một thành phố rất nhỏ trong hàng ngàn thành phố khác trên khắp nước Mỹ, thế mà số người homeless đã cao như thế, thì thử hỏi con số người homeless sẽ đến mức nào trên khắp nước Mỹ?! Theo số thống kê vào tháng giêng 2014, số người homeless tại Mỹ lên đến 578,424 người. Thế còn con số người homeless tại Việt Nam thì sao?

* * *

Ca dao tục ngữ Việt Nam dạy rằng: “Một cây làm chẳng nên non, ba câu chụm lại nên hòn núi cao.” Rầt nhiều người trong chúng ta thương người nghèo, giúp người nghèo điều đó quả là quí; dầu vậy, nếu chúng ta học cách làm việc chung với nhau, thành quả sẽ lớn gấp bội và tính giáo dục cũng rất cao. Như các tổ chứ thiện nguyện tại thành phố St. Petersburg, chúng ta được mời gọi để cùng nhau chia sẻ lòng thương xót với anh em mình – dù không có tổ chức từ thiện nào hoàn hảo, nhưng họ cũng cố gắng hết sức để xoa dịu vết thương của anh em mình bao có thể. Cầu chúc chúng ta sống Năm Thánh Thương Xót không chỉ qua nghĩa cử, nhưng còn qua cách nhìn quảng đại và yêu thương nhau để cùng nhau xoa dịu vết thương của Thân Thể Đức Kitô.

Fr. Huynhquảng

Tên Người là Thương Xót

Vào ngày 12 tháng giêng năm 2016, Đức Giáo Hoàng Phanxicô gởi đến thế giới cuốn sách mới của Ngài vời tựa đề: Tên Người là Thương Xót. Sách được trình bày dưới hình thức một cuộc phỏng vấn giữa ký giả Andrea Tornielli với Đức Giáo Hoàng về chủ đề Lòng Thương Xót. Không thể nghi ngờ gì thêm, chúng ta có thể đặt cho ĐGH Phanxicô một tên mới: Giáo Hoàng của thương xót. Quả thật như vậy, ngay từ ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngày đầu tiên nhận vai trò kế vị thánh Phêrô cho đến hôm nay, có thể nói từ ngữ ngài dùng nhiều nhất chính là từ “thương xót.” Trước hết, khẩu hiệu ngài chọn là lòng thương xót, “Được chọn do lòng thương xót.” Sau đó không lâu, vào 17 tháng 3, trong bài giảng thứ hai với dân Chúa tại nhà thờ thánh Anna, Ngài đã hé lộ ra trọng tâm trong triều đại giáo hoàng cũng chính là lòng thương xót. “Thông điệp của Chúa Giêsu chính là lòng thương xót. Với sự khiêm tốn tôi có thể nói rằng lòng thương xót là thông điệp mạnh mẽ nhất của Thiên Chúa.”[1] Vì lẽ đó, cũng không có gì ngạc nhiên khi Ngài công bố năm thánh Lòng Thương Xót và mời gọi chúng ta sống và cảm nhận lòng thương xót Chúa dành cho mỗi cá nhân và toàn thể nhân loại chúng ta. Trong tinh thần ấy, trong mục Thương Xót và Nhân Hậu kỳ này, chúng ta cũng sẽ suy niệm sâu hơn về lòng thương xót của Chúa qua Bí tích Giải tội dưới cái nhìn của ĐGH Phanxixô.

Đứng trước mặt các bạn là môt con người đã được tha thứ nhiều vì những tội lỗi của người ấy

Vào ngày 21 tháng 9 năm 1953, khi cậu Jorge Mario Bergoglio mười bảy tuổi, với kinh nghiệm được đụng chạm lòng thương xót của Chúa trong bí tích giải tội qua bàn tay của linh mục Carlos Duarte Ibarra, cậu đã được biến đổi. Theo như lời tự thuật, biến cố ấy cũng là tiếng gọi để cậu dấn thân theo Chúa trong ơn gọi linh mục. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

“Vào ngày lễ kính thánh Mathêu tông đồ, khi tôi mười bảy tuổi, trong lúc xưng tội với ngài (linh mục Carlos Duarte Ibarra), tôi cảm nghiệm lòng thương xót đến với tôi… Một năm sau, Cha Carlos qua đời, tôi vẫn còn nhớ sau khi lễ an táng và chôn cất ngài, tôi trở về nhà; tôi như có cảm giác bị bỏ rơi. Tôi đã khóc và đã khóc thật nhiều một mình trong phòng. Tại sao? Bởi vì tôi đã mất đi một con người – người mà đã giúp tôi cảm nghiệm lòng thương xót của Chúa, và cũng là người đã giúp tôi hiểu được câu khẩu hiệu Được chọn do lòng thương xót – lúc ấy tôi không hiểu nhiều, nhưng về sau, tôi đã chọn nó làm khẩu hiệu cho sứ vụ Giáo hoàng của mình.”[2]

Đẹp biết bao với lời tự thú chân thành của Giáo Hoàng – Người được gọi là Đức Thánh Cha, thay mặt Chúa Giêsu chăn dắt đàn chiên của Ngài, một tội nhân như bao con người. Trong chuyến thăm trại tù tại Palmasola, Bolivia năm 2015, ngài đã thú nhận với các tù nhân rằng: “Đứng trước mặt các bạn là môt con người đã được tha thứ nhiều vì những tội lỗi của người ấy.”[3] Ngài đã thú nhận tiếp, “Điều đó đâu có gì là lạ đâu. Giáo hoàng cũng là người cần lòng thương xót của Chúa…. cứ mỗi lần tôi đi vào nhà tù cử hành thánh lễ, tôi luôn luôn tự hỏi: Tại sao là họ mà không phải là tôi? Tôi nên ở đây, tôi đáng ở đây lắm. Sự sai lầm của họ có lẽ cũng là của chính tôi.”[4] Vì lẽ đó khi cử hành bí tích Giải tội với hối nhân, Đức Giáo Hoàng vẫn thường tự nhủ lòng mình: “Tôi luôn nghĩ đến tội lỗi của tôi và tôi rất cần đến lòng thương xót của Chúa, vì lẽ đó, tôi cố gắng tha thứ [cho hối nhân] bao có thể.”[5]

Thiên Chúa không muốn chúng ta phạm tội, và không một người nào – dù là người gian ác cũng không muốn mình phạm tội. Tội lỗi luôn luôn là sự biểu hiện một điều gì đó không hoàn thiện, bị thiếu hụt, và không phải là chính mình. Quả vậy, trong Cựu Ước, từ nghĩa gốc của từ ngữ “tội” của tiếng Do Thái  là “ḥṭʾ” nghĩa là “trật đường, sai mục tiêu, lệch hướng.” Một cách bình dân cho dễ hiểu, thuở xưa, từ ngữ này bắt nguồn từ việc các vận động viên phóng lao. Nếu họ phóng lao trúng mục tiêu thì họ được nhận “vương niệm” vòng ô-liu, nhưng nếu họ phóng sai hoặc bị “trật” ra khỏi vòng mục tiêu, thì họ bị cho là “ḥṭʾ” –  họ đã nhắm sai mục tiêu – họ “phạm tội.” Như thế, cứ mỗi lần vận động viên phóng mũi tên trật mục tiêu, thì lý do dể hiểu có lẽ là anh ta đứng không vững, bị nghiêng xẹo. Một cách nôm na tương tự, mỗi khi ta phạm tội, điều đó luôn phản ảnh sự mất cân bằng, thiếu hụt và yếu đuối của chúng ta. Sự thực là không một ai muốn phạm tội. ĐGH tâm sự, “Từ kinh nghiệm chúng ta biết rằng, vì tội Nguyên tổ, loài người bị thương tích; chúng ta biết phân biệt điều tốt và xấu, chúng ta biết điều gì là xấu xa, và chúng ta cố gắng đi theo đường tốt, nhưng chúng ta vẫn sa ngã là bởi vì chúng ta yếu đuối và chọn điều xấu.”[6] Vì bị thương tích, nên chúng ta phạm tội. Nói một cách khác, tội là vết xưng bầm tím bên ngoài xuất phát từ vết thương ẩn dấu bên trong con người chúng ta. Vì lẽ đó, cũng như mỗi loại tội có một tên gọi khac nhau thì mỗi vết thương cũng có một tên gọi khác nhau. Khi chúng ta ghét ai, dù chúng ta không muốn, nhưng vì vết thương mang tên “ghét” đang ẩn sâu trong con người mình làm mình ghét người khác. Cũng thế, sự ghen tị là biểu hiện vết thương có tên “ghen tị” bên trong con người. Trộm cắp là sự biểu hiện vết thương mang tên “tham lam.” Nói tóm lại, bất cứ tội nào cũng là sự biểu hiện vết thương trong tâm hồn mình. Chính vì lẽ, bí tích Giải tội không chỉ tội lỗi được tha mà còn là cơ hội để được chữa lành những vết thương ẩn rất sâu-sâu-sâu bên trong. Càng chân thành kiên trì phơi bày tội lỗi (mặt nổi bên ngoài), thì càng có cơ hội để Thầy Giêsu đụng chạm được vết thương ẩn kín bên trong; chúng ta sẽ mau được chửa lành. Như thế đã rõ, tội không phải là điều trọng tâm trong bí tích Giải tội, nhưng là lòng thương xót và mong muốn ta được cứu chữa mới là chính yếu. Bí tích Giải tội trở nên thần dược giải cứu chúng ta do lòng thương xót hải hà của Chúa bởi vì, Đức Giáo Hoàng chia sẻ, “Tôi không là gì cả, tôi là kẻ khốn nạn. Chúa Cha lại quá yêu tôi, Người muốn cứu tôi, Người muốn đưa tôi ra khỏi sự khốn nạn ấy, nhưng tôi không đủ khả năng để làm việc đó cho chính tôi. Và vì thế, Người đã gởi Con của Người – Người Con mang lòng Thương Xót của Chúa Cha trở nên tình yêu dành cho tôi.[7]” Còn hành động nào đẹp hơn hành động yêu thương ấy!

Fr. Huynhquảng

[1] Pope Francis (2016-01-12). The Name of God Is Mercy (Kindle Locations 58-59). Random House Publishing Group. Kindle Edition.

[2] Pope Francis, 217.

[3] Pope Francis, 407.

[4] Pope Francis, 422.

[5] Pope Francis, 351.

[6] Pope Francis, 430.

[7] Pope Francis, 414.

Thở Dưới Nước

rescueCũng như tất cả thành viên của hội AA (Alcoholics Aanonymous), lời đầu tiên của John trong những cuộc họp mặt thường lệ chính là: Tôi là người nghiện rượu.

John bắt đầu uống rượu từ rất trẻ và ngày càng lún sâu vào việc nghiện ngập. Không cần phải nói, thể xác và tinh thần của John mỗi ngày mỗi tồi tệ; đời sống cá nhân cũng như gia đình của anh đều bị ảnh hưởng nặng nề. Dầu vậy, hậu quả lớn nhất mà John phải chịu đó chính là ám ảnh của sự sợ hãi. John không bao giờ hài lòng về chính mình và không bao giờ cảm thấy tự tin về những thành quả trong cuộc đời mình vì nổi mặc cảm quá lớn: Mình là một con nghiện. Điều này làm John luôn sống trong sự sợ hãi; John không thấy bình an và tự tin nếu John không được khen ngợi. John luôn sống trong thái độ chờ mong được động viên, khen ngợi, và được thừa nhận từ phía người khác. Dầu vậy, những lời động viên khen gợi ấy cũng không thể nào lấp đầy vào lỗ hỏng của sự sợ hãi trong tim của John. John muốn có một đôi giày như người bạn đang có, vì nghĩ rằng với đôi giày ấy, John sẽ tự tin và yêu đời như người bạn kia. Nhưng buồn thay, sau khi đã có đôi giày ấy, John vẫn mặc cảm là giày của mình không đẹp bằng giày của người bạn. John thấy người bạn mình mang chiếc áo đẹp, nhưng sau khi John đã sở hữu chiếc áo như của người bạn, John vẫn không vui vì cho rằng, chiếc áo của mình vẫn có điểm gì đó thua chiếc áo của người bạn, điều này cũng làm cho John bối rối. Cứ như thế, tất cả những gì John nghĩ chúng có thể giúp John tự tin và đáng yêu hơn, nhưng sau khi đã sở hữu chúng, John vẫn không cảm thấy tự tin và đáng yêu như mình mong đợi. Cuộc đời của John như một người bị ngộp thở dưới nước – chẳng bao giờ John có được hơi thở tự do và cho chính mình cả. John luôn sống trong sự sợ hãi: thất bại, bị phê bình, sai lầm, không được công nhận.

Chúng tôi thừa nhận chúng tôi bất lực trước sự nghiện ngập này – Chúng tôi không đủ khả năng để làm chủ đời mình nữa


Lổ hổng sợ hãi được lấp đầy khi John chấp nhận mình là thành viên của AA – Hiệp Hội Người Nghiện Ẩn Danh. Tham gia vào hội AA, John được học mười hai bước nhằm giúp đở người nghiện làm lại cuộc đời mới. Trong mười hai bước này, bước căn bản đầu tiên chính là thựa nhận rằng: “Tôi bị nghiện rượu.” → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Bưới thứ nhất trong mười hai bước giúp người cai nghiện rượu được diễn đạt như sau: “Chúng tôi thừa nhận chúng tôi bất lực trước sự nghiện ngập này – Chúng tôi không đủ khả năng để làm chủ đời mình nữa.”[1] Chấp nhận mình là ai, tình trạng hiện tại như thế nào là bước căn bản đối diện thẳng với sự thật của mình. Khi can đảm chấp nhận sự thật – dù có phủ phàng, chúng ta đang đi vào nguồn sáng có khả năng giải thoát ta khỏi sợ hãi, u ám, và tội lỗi. Đúng vậy, cuộc đời con người luôn bị bao phủ những mạng nhện đan kín và chòng chéo lẫn nhau giữa điều muốn làm và điều không muốn làm, giữa sự ác và sự thiện, giữa tư tưởng ích kỷ và vị tha, giữa yêu mến và ghen ghét. Kinh nghiệm của thánh Phaolô giúp chúng ta tỏ bày điều đó: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Đó chính là phận người thụ tạo: tốt đẹp đan xen với bất toàn, yêu mến đan xen với ích kỷ, thánh thiện đan xen với tội lỗi. Mỗi người sẽ vẫn mãi có đó những thao thức cho sự hoàn thiện, vươn lên, và thoát tục. Tuy nhiên, điều nghịch lý lớn nhất trong đời sống đức tin của người Kitô hữu chính nằm ở chỗ, “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cor 12:10). Thực tế cho ta thấy, những kinh nghiệm được thương xót và thắm thiết “gần” Chúa không phải là lúc đời ta bình an tràn đầy nụ cười – dầu cũng có những trường hợp như thế, nhưng đa số, chúng ta cảm thấu Chúa yêu ta thường khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm vấp ngã hay tội lỗi. Câu hỏi khó có thể tìm cho ra giải đáp chính là: Vậy đây có phải là cuộc chơi “trốn – tìm” trong đời sống tâm linh giữa ta với Thiên Chúa? Sao Chúa lại “thích trốn” khỏi mình đằng sau những hoành cảnh éo le ấy? Xin thưa, dường như sự thánh thiện của Thiên Chúa chỉ có thể dành cho những ai khiêm tốn và gối họ biết quì xuống vì nhận ra phận người bất lực. Dường như sự thánh thiện ấy cũng chỉ ban tặng cho ai biết thừa nhận, “Tôi không còn đủ khả năng để làm chủ đời tôi nữa.” Và bởi vì, không có Chúa tôi không thể làm được điều gì!

* * *

Theo tiêu chuẩn xã hội, việc thừa nhận bất lực và không đủ khả năng điều khiển đời mình là một sự thất bại và thua cuộc. Đời sống xã hội dùng thành quả của danh tiếng và tiền tài để xác định chiến thắng hay thất bại của một đời người. Nếu áp dụng theo nguyên tắc này vào đời sống tâm linh thì hậu quả cũng rất nguy hiểm: Bình an thì thành công, bấn loạn là thất bại; hạnh phúc là thành công, lo lắng là thất bại; sạch tội là thành công, phạm tội là thất bại, làm chủ chính mình là thành công, mất tự chủ là thất bại. Nếu áp dụng những nguyên tắc này vào đời sống tâm linh, thì hoá ra, chúng ta chỉ mãi đi tìm những thành quả – của – chính – mình, vẫn lấy mình làm trung tâm mà không là Thiên Chúa. Như thế, có khác đâu những Pharisêu mà Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án?! Có khác gì đâu so với tội kêu ngạo của tổ tiên loài người?! Vì mãi chạy theo những tiêu chuẩn này, nên chúng ta cố “làm chủ” lấy mình cho bằng mọi giá kể cả khi trái tim ta trở nên băng giá vô cảm trước những yếu đuối lỗi lầm của anh em ta. Vô tình ta cũng đóng băng trước tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Hậu quả chính là đời sống đạo của ta bị bao phủ bởi hết mớ luật này đến mờ luật khác mà bỏ xót điều trọng tâm của đời sống Kitô hữu: Yêu Chúa và yêu người. Đó cũng chẳng khác nào sự biểu hiện một mức độ kêu ngạo sâu và thâm hơn mà thôi.

Năm thánh Thương Xót mời gọi ta thừa nhận như Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con là người tội lỗi.” Như người thu thuế đứng đằng xa không dám ngước mắt lên chỉ đấp ngực van xin tha thứ, như người mù bên vệ đường: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Ước chi chúng nhận lãnh ơn Thương Xót Chúa thật dạt dào trong đời ta, nhất là luôn biết thừa nhận sự bất lực của chúng ta khi đương đầu với tội lỗi và sự dữ. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Fr. Huynhquảng

[1] Richard (2011-09-17). Breathing Under Water: Spirituality and the Twelve Steps (p. 1). St. Anthony Messenger Press. Kindle Edition.