Thanh Kẹo Gum

Posted by

Vào mùa hè năm 1997, một sinh viên của lớp 2A18 của trường Đại học Huflit, Sài gòn, tham gia một khoá huấn luyện quân sự tại Công viên Gia Định. Vào giờ giải lao, các sinh viên tụ tập lại bóng cây nghỉ ngơi, ca hát, tán ngẫu. Sau một vài ngày đầu, chàng sinh viên bắt đầu làm quen với địa điểm và cũng bắt đầu chú ý tới môi trường xung quanh của Công viên. Chàng cũng bắt đầu quan sát và nhận thấy bên cận những người lớn bán Gum, kẹo, nước trà đá, cũng có một số trẻ em buôn bán những món này.

Một buổi trưa nọ, một chú bé bán Gum tiến đến mời chàng sinh viên mua Gum; vốn là sinh viên nghèo từ tỉnh lên thành phố, việc mua một thanh Gum cũng là điều cần đắn đo suy nghĩ cho buổi cơm ở quán xích-lô cho chiều nay. Dẫu vậy, ánh mắt và lời mời của đứa bé đã thuyết phục được cậu sinh viên.

“Em bán Gum nhưng có bao giờ em ăn chưa?” Chàng sinh viên hỏi.

“Làm gì có anh. Tiền đâu mà ăn.” Với giọng điệu ngạc nhiên, cậu nhanh nhẹn đáp.

“Thế em bán Gum bao lâu rồi?”

“Dạ gần hai năm.”

“Mùa hè em bán thêm có phải không?” Chàng sinh viên tiếp tục.

“Không anh, em bán luôn. Đây là “nghề” của em.”

“Vậy là em không đi học, đúng không? Quê em ở đâu?”

Như một giọt nước tràn ly, đứa bé chân thành chia sẻ. “Em ở Thái Bình. Ba em mất, gia đình em có ba anh em. Em là con lớn. Má không có tiền cho tụi em đi học. Em xin mẹ cho em vào Nam để kiếm tiền. Em đi với một nhóm bạn. Hy vọng giúp tiền cho em của em đi học.”

Khoé mắt chàng sinh viên cay cay khi nghe em bé chỉ mới trên mười tuổi mà đã phải bôn ba kiếm sống và lo cho mẹ, cho em.

“Em bán cho anh hai cây” Chàng sinh viên lấy tiền đưa cậu bé và tiếp, “Cây này cho em, cây này cho anh. Em ăn đi.” Cậu bé dấu tiền vào túi áo và mở đôi mắt ngạc nhiên. “Sao, anh cho em?!”

“Ừ, đúng vậy! Em ăn thử cho biết nó ngon không.”

Cậu bé lúng túng mở giấy kẹo Gum như tỏ rõ cậu chưa bao giờ nếm hương vị của những cây Gum mà cậu hằng ngày phục vụ cho khách hàng.

Tiếp vào những ngày sau, cậu bé tìm đến chàng sinh viên để trò chuyện, cậu bé tâm sự.

“Mỗi tháng, em phải kiếm ít nhất 140 ngàn đồng. Em phải gởi về cho mẹ một nửa, còn một nửa em trả cho nhà trọ và ăn uống. Có những lúc em không có đủ để gởi về cho mẹ, em lo lắm vì không biết mẹ và các em sẽ ra sao.” Chàng sinh viên vẫn tiếp tục lắng nghe.

Sau hơn một tuần lân lê với nhau vào những giờ nghỉ, chàng sinh viên như ý thức hơn về sứ mạng của mình – giới thiệu đức tin cho cậu bé. Chàng cố ý để lộ cây thánh giá bằng I-nóc cho cậu bé thấy. Cậu bé thắc mắc.

“Anh đeo thánh giá dẹp quá” cậu bé khen.

“Ừ, em thích không? Bà nội tặng cho anh đó.” Chàng sinh viên đáp.

“Em ở gần nhà thờ, nhà thờ có cây thánh giá to lớn lắm. Hằng ngày em nghe tiếng chuông, em muốn đi lễ vì tụi bạn nó đi hằng ngày, nhưng mẹ em không cho vì sợ…” Cậu bé ngập ngừng không dám nói. Chàng sinh viên cũng có thể đoán hiểu được sự e sợ của người dân sống tại Miền Bắc dưới sự dòm ngó của chính quyền vô thần.

Cậu bé tiếp, “Làm cách nào để em đi lễ được, em muốn lắm.”

Tới đây, chàng sinh viên nhìn cậu bé âu yếm và đám. “Anh sẽ giúp em nếu em muốn.”

Thế là từ ngày ấy, khoảng 30 phút giải lao, hai anh em tìm một nơi riêng để “học đạo.” Cậu bé vui và hớn hở như đã tìm được một kho tàng mà lâu nay hằng mong mỏi. Những kinh quen thuộc, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, những câu hỏi đơn sơ chân thành của cậu bé về dấu thánh giá, về Mẹ Maria, về Chúa Ba Ngôi dần dần, mỗi ngày một ít được giới thiệu và chia sẻ.

Cuối cùng, cậu bé hỏi, “Anh cho em theo đạo được không?”

“Được” Chàng sinh viên đáp. “Nhưng tốt hơn em nên được rửa tội trong nhà thờ, ví dụ như nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng.”

“Không, em muốn anh rửa tội cho em, vì em sợ là em không thể tới đó được. Và em cũng không biết ai ở đó.” Với tấm lòng chân tình của đứa bé đủ trí khôn đã thúc dục chàng sinh viên suy nghĩ nghiêm túc về lòng khao khát của đứa bé.

Một vài ngày sau, chàng sinh viên và thêm một cô bạn Công giáo, đưa cậu bé ra một vũng nước tại Công viên Gia Định, bảo cậu bé tuyên xưng đức tin một Chúa Ba Ngôi của Giáo hội Công giáo và cậu bé đã được rửa tội. Quà tặng cho cậu bé chính là cây thánh giá I-nóc, và tiệc mừng là một thanh keo Gum cho cả ba.

* * *

Mẹ Têrêsa nhắn nhủ, “Mang Chúa đến cho người và mang người đến cho Chúa.” Đó chính là sứ mạng của người Kitô hữu – người mang Chúa – mang Lòng Thương Xót. Xã hội chúng ta vẫn còn nhiều mãnh đời éo le như thế lắm. Một thanh kẹo Gum đã liên kết hai con người với nhau; một thanh kẹo Gum đã dẫn họ đưa họ gặp nhau trong đức tin Công giáo; và cũng chính thanh kẹo Gum đã làm cho tình thương xót được biểu lộ.

Ước mong em bé ngày nào giờ đây là một thanh niên thành đạt và nếu em đọc được những lời tâm sự này, thì xin em nhận nơi anh lời cám ơn vì sự đơn sơ đón nhận Đức tin của em. Nhờ em, anh đã học và tập sống lòng thương xót trong cuộc đời mình.

Fr. Huynhquảng

Related Posts with Thumbnails