Con Kiến

Fr. VietThiên Chúa không bao giờ và mãi sẽ không giây phút nào bỏ rơi chúng ta. Niềm tin và hy vọng vào tình yêu chung thuỷ của Thiên Chúa đối với mỗi cá nhân thật sự sâu đậm và vững chắc. Vì lòng chung thuỷ của Thiên Chúa đối với mỗi cá nhân không lệ thuộc vào thành quả hay sự hy sinh lập công của chính chúng ta, nhưng bởi vì Thiên Chúa Là Tình Yêu và Thiên Chúa không thay đổi. Vì lẽ đó, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Thiên Chúa luôn mời gọi chúng ta đừng thất vọng, nhưng luôn hy vọng vì chính Ngài là Chúa của ta.

Wow, nó là con kiến mà còn biết thương nhau. Mình là con người, sẽ có người cứu mình!


Tôi bị bắt giam gần ba năm (2001 – 2004). Trong thời gian này, phần lớn là bị biệt giam. Vì ở một mình, nên tôi dễ dàng quan sát những thay đổi nhỏ trong phòng, những vị khách ruồi muỗi xuất hiện cũng dễ nhận ra. Sau khi nhận được bản cáo trạng với mức án “mười hai năm đến hai mươi năm, chung thân, hoặc tử hình,” lòng tôi bước vào một kinh nghiệm đen tối, sợ hãi và nghi ngờ. Nghi ngờ vào sự hiện diện của Thiên Chúa, nghi ngờ vào chính Thiên Chúa. Thế là hết một đời người với bao ước mơ, hy vọng cho cuộc đời tốt đẹp. Nhẹ nhất, tôi cũng sẽ trải qua mười hai năm tù. Tương lai sẽ về đâu? Gia đình người thân ra sao? Anh em, bạn hữu thế nào, sau hơn mười năm tù tội?

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Vào một buổi trưa với tâm trạng buồn thảm và thất vọng, tôi ngồi “chầu rìa” trong phòng giam để những giọt nước mắt lăn dài xót thương cho thân phận đen tối của mình… bỗng tôi thấy một con kiến đi vào phòng giam. Theo bản tính tự nhiên chưa thuần – thấy kiến là giết, tôi đưa tay giết con kiến. Nhưng khi tay tôi vừa chạm tới nó, tôi rụt tay lại vì nghĩ đến sự vô tội của nó. “Mình là thằng tù mà lại không biết thương con kiến vô tội?” Dẫu tay tôi đã rụt lại, nhưng quá muộn, vì tôi đã đụng đến nó. Hậu quả là một chân của nó bị gãy. Ôi thôi, thế là con kiến phải lê lết rất khó khăn trong phòng giam. Khốn khổ cho nó, vì trong phòng còn đọng lại một ít vũng nước nhỏ, thế là chú kiến vô tội – vốn chân đã gãy, lại còn bị kẹt vào vũng nước ấy – Hết đường thoát thân!

Tôi nhìn con kiến đau đớn muốn thoát ra vũng nước mà không thoát được; nó cố thật nhiều, nhưng bao nhiêu cố gắng của nó cũng chẳng thấm vào đâu. Tôi càng nhìn con kiến, tôi thấy chính tôi trong đó. Một lòng hối hận sâu sa trào đến trong tôi. “Tại sao tôi lại có ý gian ác giết con kiến vô tội như thế? Tôi là một tù nhân rồi, mất tự do rồi, tại sao tôi lại không biết thông cảm và yêu thương loài vật vô tội?” Nhìn con kiến bất lực lê lết trong vũng nước như vô vọng, tôi chỉ muốn giúp nó thoát ra vũng nước ấy, nhưng ngón tay tôi quá lớn, trong khi con kiến quá nhỏ, tôi chỉ e sợ là ngón tay tôi làm cho vết thương nó thêm nặng và hại cho mạng sống nó thôi. Vậy là trong tôi xảy ra một trận chiến nội tâm: Một bên là tôi muốn cứu con kiến, nhưng tôi không thể cứu nó; bên kia là than trách mình vốn vẫn chưa nhân từ và thương xót loài vật vô tội. Tôi nhìn con kiến vô tội muốn cứu nó mà than trách tôi: Tôi thật tệ, thật xấu, thật gian ác…. bao nhiêu tư tưởng tiêu cực như dành cho tôi. Bản cáo trạng tôi mới nhận vẫn chưa ráo mực, giờ đây chính tôi lại kết án tôi thêm nữa…

Bỗng nhiên, tôi thấy một con kiến khác từ ngoài cửa bò vào phòng giam. Nó đi thẳng đến vũng nước và cỗng con kiến bị thương. Nó rán sức để kéo bạn nó ra khỏi vũng nước và sau đó, nó dìu bạn nó bò từ từ ra khỏi phòng giam – đi ra hướng cửa mà nó đã đi vào. Sự việc xảy ra ngay trước mắt tôi gây cho tôi một sự sững sốt kinh ngạc đến nỗi tôi phải thốt lên: “Wow, nó là con kiến mà còn biết thương nhau. Mình là con người, sẽ có người cứu mình!” Tự nhiên trong tôi bừng lên một tia sáng và niềm hy vọng. Tôi như cảm nhận được lời nói của Chúa. “Con, Cha biết những tiếng khóc và lo sợ của con, cứ vững tin, đừng mất hy vọng, sẽ có người cứu con.” Quả thật, tôi được giải cứu và ra tù sớm hơn thời hạn rất nhiều.

Thưa bạn, chúng ta đang cùng nhau học hỏi về chủ đề Đức Cậy, một trong ba nhân đức đối thần trong loạt bài Sống Sao Cho Đẹp. Tôi mạo muội chia sẻ kinh nghiệm trên với bạn như để nhắc nhở chính tôi lại rằng, dù hoàn cảnh nào đó có làm tôi “què chân” hay bị giữ lại trong “vũng nước,” hay bị giam giữ dưới bất cứ hình thức nhà tù nào, thì tôi cũng không được phép thất vọng. Khi thất vọng là tôi xúc phạm đến Thiên Chúa – Một Thiên Chúa yêu thương tôi rất thật và rất gần gũi. Thiên Chúa rất gần – gần hơn cả hơi thở mà tôi đang thở, gần hơn cả suy nghĩ mà tôi cứ nghĩ là chỉ có tôi mới biết. Gần lắm, ngay trong da thịt và dòng máu của tôi. Và Thiên Chúa ấy sẽ mãi mãi không không bao giờ thất vọng trước bạn và tôi. Vì lẽ đó, chúng ta cũng không được phép thất vọng về chính mình và với Thiên Chúa.

Fr. Huynhquảng

Đức tin của tôi ở đâu?

Mother TeresaNgười nữ tu Albania Anjezë Gonxhe Bojaxhiu (1910 – 1997), cũng được gọi với tên quen thuộc là Mẹ Terêsa Calculta, dù với một dáng vóc bé nhỏ tầm thường, nhưng Mẹ đã trở nên mẫu gương đức tin cho thời đại chúng ta – một hành trình đức tin trong bóng đêm tưởng chừng như cô đơn lạc lõng, nhưng lại chiếu sáng cho nhiều người trên thế giới.

Mẹ Terêsa bắt đầu yêu thích đời sống tận hiến từ năm 12 tuổi. Sáu năm sau, vào năm 1928, Mẹ Terêsa trở thành nữ tu của dòng Đức Mẹ Loretta và bắt đầu hành trình truyền giáo tại Ấn độ năm 1929. Năm 1937, Mẹ khấn trọn đời tại Darieeling với ước nguyện “Hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời.” Bên cận công việc dạy học, cùng với các nữ tu trong nhà dòng, Mẹ Terêsa đi thăm viếng các bệnh nhân và chăm sóc những người bất hạnh tại Calculta. Hằng ngày đối diện với những anh chị em bất hạnh, Mẹ Terêsa luôn thao thức đặt câu hỏi: Ai sẽ chăm sóc cho những người bất hạnh lang thang trên đường phố hằng ngày?

Chính đức tin thúc đẩy ta không bỏ cuộc, gạt qua thất bại để dấn bước lên phía trước dù phía trước ấy là một đêm đen không ánh sáng.


→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Vào ngày 10 tháng 9 năm 1946, trên chuyến tàu đi từ Calculta đến Himalaya để tĩnh tâm, Mẹ Terêsa nhận được một lời kêu gọi mới từ Chúa Giêsu: “Ta biết con chỉ là người bất tài, yếu đuối và tội lỗi – nhưng chỉ vì chính con là mà Ta muốn mời gọi con để con làm vinh danh Ta, liệu con có từ chối?” Sau tiếng gọi thân thiết và khẩn khoản này, Mẹ Terêsa xin phép rời nhà dòng, và với sự chấp thuận của Tổng giám mục Ferdinard Périer, Mẹ Terêsa bắt đầu sứ mạng mới tại Calcuta chỉ để phục vụ những người “không ai thích, không ai yêu, và không ai chăm sóc.” Từ ngày ấy, hình ảnh của một nữ tu với chiếc sari trắng xanh miệt mài chăm sóc cho người nghèo dần dần được nhiều người biết đến. Điều đáng ngạc nhiên và thán phục chính là tài sản ban đầu của Mẹ Terêsa nhằm để giúp cho người nghèo chỉ là một cục xà-phòng và 5 rubi. Sau một thời gian không lâu, vào ngày 19 -3 -1949, thiếu nữ đầu tiên tình nguyện gia nhập hội dòng Thừa Sai Bác Ái chính là nữ tu Agnes – người học trò cũ của Mẹ. Từ đó trở đi, Hội dòng của Mẹ ngày càng lớn mạnh và phát triển và hiện diện trên khắp thế giới.

Từ năm 1950, Mẹ Terêsa miệt mài chăm sóc người nghèo và mở ra nhiều viện tế bần để chăm sóc các bệnh nhân, người phong hủi, các cô nhi, cũng như là sáng lập nhiều hội dòng khác nhau: Hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái (1963), Nữ Tu Chiêm Niệm (1976), Nam Tu Sĩ Chiêm Niệm (1979), và Hội Thừa Sai Linh Mục (1984). Bên cạnh đó, Mẹ Terêsa cũng được thế giới vinh danh với nhiều giải thưởng khác nhau: Giải Padmashri của Ấn Độ (1962), Giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1971), Giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới (1972), và Giải Nobel Hòa Bình (1979). Đến cuối đời của Mẹ, vào năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị, hoạt động tại 610 nhà trong 123 quốc gia trên thế giới. Không một ai có thể phủ nhận sự thành công và nổi tiếng của Mẹ Terêsa, dầu vậy, chính Mẹ phải thú nhận Mẹ đã trải qua một thời gian “đen tối và cay đắng” trong đời sống nội tâm. Mẹ thường xuyên cảm nghiệm một cách sâu lắng trong đau đớn rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ từ ngày khởi sự công việc phục vụ người nghèo cho đến cuối cuộc đời. Mẹ viết lại trong nhật ký, “Đức tin của tôi ở đâu – Trong sâu thẳm, tôi không cảm thấy gì cả, chỉ là sự trống vắng và đen tối. Ôi Chúa của con – Thật bất hạnh và đau đớn khi phải mang nỗi đau không tên – Con không có đức tin. Con không dám thốt nên lời và dàm nghĩ tới điều đó – điều làm con đau khắc khoải không thành tiếng được.”

* * *

Vào thế kỷ thứ 16, thánh Têrêxa Avila cũng trải qua kinh nghiệm tương tự nên đã thốt lên, “Vì Chúa xử với bạn Chúa theo cách thức này, nên không lạ gì Chúa thật ít bạn.” Đau khổ và đi trong bóng đêm đức tin là một mầu nhiệm mà không ai có thể diễn tả thay cho chúng ta được. Cuộc đời con người vẫn là những bước lần mò dò dẫm đi tìm hạnh phúc, sự an toàn và ý nghĩa cho từng ngày sống của mình. Chẳng lúc nào chúng ta nghĩ ngơi đi tìm sự nghĩ ngơi cho tâm hồn; chẳng ngày nào chúng ta dừng chân thoã mãn với những gì chúng ta kiếm gặp. Tìm được một nguồn sáng, rồi cũng lu mờ đi sau một giấc ngũ; gặp được niềm vui, rồi cũng chóng tàn khi bước qua một ngày mới. Phận con người là thế đó, cứ đi tìm mãi, tìm mãi một chỗ yên nghĩ, một niềm vui vĩnh cữu, một sự an toàn tuyệt đối… nhưng gặp rồi lại mất, nắm rồi lại vuột, cảm nghiệm rồi lại trơ trơ. Nhưng lạ thay, con người vẫn khát vọng đi tìm, và đi tìm… và còn đi tìm là còn đức tin và còn hy vọng. Và đúng như thế, chỉ có đức tin mới thúc đẩy chúng ta cố gắng, hy sinh, vươn tới, đi tìm. Chính đức tin thúc đẩy ta không bỏ cuộc, gạt qua thất bại để dấn bước lên phía trước dù phía trước ấy là một đêm đen không ánh sáng.

Bạn thân mến, Mẹ Têrêxa đã trải qua kinh nghiệm và thử thách đen tối trong hành trình đức tin của mình. Nhưng chính nhờ đức tin mà Mẹ vẫn dấn thân, dù mình không được sự an ủi. Đó chính là hành trình đức tin của mỗi chúng ta. Đã có ít nhất một ngày nào đó trong đời mình, bạn và tôi cũng trãi qua kinh nghiệm tương tự. Ít nhất đã có một lần, bạn và tôi cũng đã đi qua một kinh nghiệm thật đáng sợ nhưng vẫn tín thác và trung tín với Chúa dù chẳng được ơn an ủi. Hôm nay chúng ta cùng tạ ơn Chúa qua những bài học này, cuối cùng cũng chỉ vì yêu mà Ngài đào luyện chúng ta để chúng ta nên giống Ngài hơn mà thôi. Tin rằng, đó cũng chính là quà tặng đức tin mà Ngài trao ban.  

Lạy Chúa,

Xin giúp con lòng can đảm đi vào đêm tối với Chúa.

Xin cho con lòng xác tín rằng chỉ vì yêu con mà Chúa dẫn con vào mầu nhiệm đêm tối.

Xin cho con mở lòng đón nhận đêm tối, sự khô khan, sự dững dưng, sự không chắc chắn mà con đối diện hằng ngày.

Xin cho con lòng trung thành và kiên trì cho đến cùng nhất là khi con hành trình một mình trong đêm tối.

Xin cho con niềm phó thác và xin vâng; lòng can đảm dâng hiến đời con trong mọi hoàn cảnh đêm tối.

Xin cho con đừng bao giờ tháo lui, bỏ chạy, hay tìm một nguồn ánh sáng nào khác ngoài đêm tối con đang đối diện.

Lạy Chúa, dù con không hiểu gì, nhưng xin củng cố ý chí con. Cho con tin rằng, đêm tối này lá quà tặng Chúa ban cho con một cách đặc biệt nhất để con được hoàn toàn chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa một cách thực nhất và trọn vẹn nhất.

Mẹ ơi, xin giúp con đi cho đến cùng hầm tối này. Và cho con niềm hy vọng để con đi cho đến cùng. Amen.

Fr. Huynhquảng

http://www.seattletimes.com/news/mother-teresas-dark-night-of-the-soul-produced-luminous-life/

http://www.biography.com/people/mother-teresa-9504160#religious-calling

Phục Sinh có thật không?

The tomb, JerusalemBạn thân mến, chúng ta vừa suy niệm năm đề tài về các nhân đức tự nhiên. Để tiếp tục với chủ đề nhân đức, thân mời bạn cùng nhau học hỏi về nhân đức đối thần gồm: Tin, cậy, và mến. Đối tượng của ba nhân đức này là Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa. Nói cách khác, Chính nhờ Thiên Chúa mà con người có đức tin, đức cậy, và lòng yêu mến. Vì chỉ khi sống hướng về Thiên Chúa, đời sống ta mới có ý nghĩa. Chúng ta tin vào Thiên Chúa, chúng ta cậy trông và Người, và chúng ta yêu mến Chúa bằng trái tim của mình.

Niềm tin không cần nhiều lý luận, nhưng chỉ đơn thuần là tin


Đức tin là một phạm trù tôn giáo, đặc biệt trong Kitô giáo. Đức tin luôn luôn nói lên mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người. Khi không có mối quan hệ này, đức tin sẽ không còn là đức tin nữa, nhưng nó bị bao phủ bởi một mớ luật lệ ẩn chứa dưới danh nghĩa “sống đức tin.” Khi không nhận diện ra mối quan hệ thật giữa Thiên Chúa và con người, đời sống đức tin của chúng ta sẽ trở nên khô cằn, mệt mõi, và nặng nề; lúc ấy, nền tảng của đời sống đạo là lề luật chứ không phải là tình yêu chan chứa. Nhưng khi con người cảm nghiệm mối tương quan mật thiết này, con người biểu lộ đức tin một cách đơn sơ nhưng mạnh mẽ mà nhiều khi theo lý luận của con người thì khó chấp nhận được. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Năm 1997, cùng các bạn học môn Kinh Tế Chính Trị tại giảng đường trường Đại học Huflit (Cơ sở 2, Đồng Nai – Tô Hiến Thành), thầy giáo với giọng nói thách đố đã hỏi chúng tôi về câu hỏi: “Tôn giáo, đức tin là sự bịa đặt. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu có thật không? Có em nào chứng minh được điều trên cho thầy và các bạn tin?” Cả hội trường im lặng một cách nặng nề. Ngồi sát bên cận tôi là anh Phong, và anh Toàn. Thấy tôi có ý định muốn trả lời câu hỏi này, anh Toàn kéo tay tôi nói nhỏ, “V, nếu cậu muốn qua phà thì ngồi yên.” Nhưng trong tôi vẫn bị thôi thúc muốn nói điều gì, nên tôi đứng lên. “Thưa Thầy, em có ý kiến.” Cầm micro trong tay tôi chia sẻ.

Hình ảnh đến với tôi là anh Phong, (Xin lỗi Phong nhé), người hay đi học trễ. “Thưa thầy, em không biết phải chứng minh như thế nào để cho Thầy tin về sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu. Nhưng qua ví dụ này, em sẽ chứng minh cho Thầy thấy sự kiện Phục Sinh là có thật. Vì tin, không có nghĩa là thấy mới tin, nhưng tin vì cho dù mình không thấy. Đức tin là nằm ở chỗ đó. Vì thấy rồi, không cần tin nữa.

Ví dụ chúng ta đang ngồi đây. Một bạn (trong đầu tôi nghĩ tới Phong) hôm nay đi học trễ vào lớp và nói với em rằng. “Việt, ngoài đường có tai nạn.” Em có tin lời nói của bạn ấy không? Thưa, câu trả lời là còn tuỳ thuộc vào người đưa tin. Nếu bạn ấy là người chuyên nói sạo, là người không đáng tin, thì chắc em sẽ chưa tin ngay. Nhưng nếu bạn ấy là người không bao giờ nói láo, luôn luôn có uy tín, thì em sẽ tin vào sự kiện mà bạn ấy truyền đạt.

Niềm tin vào sự kiện Phuc Sinh cũng tương tự như thế. Em không thấy Đức Kitô Phục Sinh bao giờ, cha mẹ em cũng không thấy, ông bà và rất nhiều nhiều người từ 2000 năm nay cũng không chứng kiến trực tiếp Chúa Giêsu Phục Sinh, tuy nhiên hàng triệu người vẫn tin vào sự kiện Phục Sinh vì đơn giản là họ tin vì nhờ vào những chứng nhân trực tiếp. Họ là những chứng nhân đáng tin! Tại sao biết những chứng nhân này rao truyền sự thật và những gì họ ra truyền là đáng tin? Thưa. Họ không chỉ nói sự thật mà còn lấy mạng sống mình ra để dám chết cho sự thật ấy nữa. Các Tông Đồ là chứng nhân trực tiếp về biến cố Phục Sinh và tất cả họ đều lấy mạng sống để chứng mình về biến cố này. Vì nó quá thật đến nỗi họ không thể nói khác đi được dù khi họ phải hy sinh mạng sống của mình. Và không chỉ Nhóm Mười Hai người này, mà còn nhiều người khác sau họ nữa. Khi có nhiều người dám lấy mạng sống ra để làm chứng cho một điều tương tự nhau, thì chắc chắn, điều họ làm chứng phải có thật. Càng lạ lùng hơn là mãi đến hôm nay, dù có nhiều người cũng không thấy trực tiếp sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu, nhưng họ vẫn can đảm làm chứng cho điều đó, kể cả cái chết. Chỉ như thế thôi, cũng đủ chứng minh là biến cố Phục Sinh là có thật. Đức tin không cần phải thấy mới tin; vì khi thấy rồi, sờ được rồi, thì không cần tin nữa!

Thầy giáo dạy Kinh Tế Chính Trị im lặng. Hình như tôi nhớ, hội trường vỗ tay. Còn tôi, dù có hơi phập phòng chờ cuối học kỳ xem sao, nhưng trong lòng mừng thầm vì có cơ hội làm chứng về biến cố Phục Sinh.

* **

Các bạn tin vào câu chuyện trên không? Tin hay không, tuỳ các bạn. Nhưng những câu chuyện tương tự như trên, và cụ thể hơn là những gương sống làm chứng đức tin vẫn diễn ra trong đời sống hằng ngày. Tại sao người ta đi lễ Chúa Nhật? Tại sao các bạn trẻ sống đời sống trong sạch trước hôn nhân? Tại sao người Kitô hữu không muốn ly dị? phá thai? Làm việc từ thiện âm thầm? Cầu nguyện trong đêm tối? Đó chẳng phải vì sống đức tin đó sao?! Đó là niềm tin có thật của người Kitô hữu. Niềm tin không cần nhiều lý luận, nhưng chỉ đơn thuần là tin. Vì thế, đức tin xuất phát từ cảm nghiệm của con tim hơn là lý luận của lý trí.

Chúng ta cầu chúc nhau sống niềm tin Phục Sinh qua sự cảm nhận mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa; chỉ với mối tương quan này, niềm tin của chúng ta mới thật và đậm đà.

Fr.Huynhquảng

Tiết độ

 

FlowerThầy Macarius (300 -391) nổi tiếng là vị ẩn tu thánh thiện trong sa mạc tại Ai-Cập; thầy thường được nhiều người tìm hỏi con đường nên thánh và cho lời khuyên dạy cho nhiều người đương thời. Một ngày kia, một thanh niên tìm hỏi thầy Macarius cách sống nào có thể giúp anh trở nên thánh thiện. Thầy Macarius bảo chàng thanh niên: “Con hãy ra nghĩa trang, hãy lấy đá ném vào những người đã chết, sau đó hãy thoã mạ và nguyền rũa họ thật lớn tiếng.”

Nhân đức tiết độ không nhằm mục đích dập tắt những ước muốn và khao khát trong con người mình, nhưng nhân đức này giúp ta điều hợp những ước muốn nội lực ấy một cách có hiệu quả – nhằm giúp ta lớn hơn, trưởng thành hơn, và hoàn thiện hơn.

Chàng thanh niên đến nghĩa trang và làm theo lời thầy Macarius; chiều tối chàng quay lại gặp thầy để chờ ý kiến. “Có chuyện gì không?” Thầy Macarius hỏi. “Dạ không, không ai trả lời và trả đủa cả.” Chàng thanh niên đáp. “Ngày mai hãy trở lại nơi ấy” thầy Macarius khuyên tiếp, “nhưng con hãy ca ngợi họ bằng những ngôn từ đẹp nhất, tán dương công trạng của họ và tôn phong họ như những vị thánh, những vị anh hùng.” Chàng thanh niên theo lời khuyên của Thầy. Hôm sau, chàng ra nghĩa trang và làm theo lời thầy dặn. Cuối ngày chàng trở về gặp thầy. Cũng như hôm qua, chàng thanh niên đáp: “Vẫn y như hôm qua. Họ không nói lời nào, chỉ im lặng.” Thầy Macarius tiếp, “Đó mới là thánh nhân. Con hãy đi và thực hành điều này: Dù người ta khen hay chê, điều đó cũng không thêm bớt điều gì cho con – con vẫn là chính con.”[1]

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Bạn thân mến, thân mời bạn cùng tác giả học hỏi nhân đức tiết độ của mục Sống Sao Cho Đẹp trong kỳ này. Cũng như mọi nhân đức khác, tiết độ nhằm mục đích giúp con người chúng ta hoàn thiện hơn, và tự do hơn. Tiết độ giúp ta làm chủ con người của mình, nhất là giúp chúng ta lấy lại sự cân bằng khi sử dụng của cải vật chất cũng như khi đối diện với những cảm xúc tình cảm thái quá trong mỗi chúng ta. Không tập nhân đức tiết độ, ta dễ trở nên nô lệ cho của cải vật chất và những cảm xúc dục vọng thái quá. Như thế đã rõ, tiết độ giúp ta được tư do và trưởng thành hơn trong tiến trình làm người. Tuy nhiên, tiết độ không phải là bài tập thực hành một lần là xong, nhưng là bài học liên lĩ trong đời người.

Khi bàn đến tiết độ, chúng ta không thể không nói đến những khát vọng và ước muốn của con người. Tự trong sâu thẳm, mỗi chúng ta luôn tiềm ẩn những ước muốn rất sâu, rất thực, và mạnh mẽ. Những ước muốn này tựa như những bản năng thôi thúc chúng ta tìm – kiếm – và giữ lấy cho mình. Chúng ta muốn được ăn no, muốn mặc đẹp; chúng ta muốn được an toàn, được sức khoẻ; chúng ta muốn được tôn trọng và yêu thương. Tuyệt vời thay, những ước muốn đã có sẵn trong con người mà không cần phải rèn luyện hay thực tập. Như thế những ước muốn sẵn có này như là những quà tặng – chúng đáng phải cho chúng ta hãnh diện về chúng – về khả năng tiềm tàng ẩn chứa trong mỗi con người. Chúng trở nên những khát vọng vô cùng để giúp ta vươn tới, để tiến lên, để hoàn thiện. Thật tốt và may mắn cho chúng ta với những ước muốn và khát vọng này. Khi không còn ước muốn và khao khát, con người mất nội lực để vươn lên, để hoàn thiện. Hiểu như thế, để dù bất cứ ước muốn và khát vọng nào – tự trong sâu thẳm, chúng như là ngọn lửa than ngầm sẵn sàng bùng cháy. Vì lẽ đó, những ước muốn và khát vọng có sẵn trong con người của chúng ta cần được điều chỉnh và điều hoà như dòng điện được biến thế cho việc thắp sáng.

Nhân đức tiết độ không nhằm mục đích dập tắt những ước muốn và khao khát trong con người mình, nhưng nhân đức này giúp ta điều hợp những ước muốn nội lực ấy một cách có hiệu quả – nhằm giúp ta lớn hơn, trưởng thành hơn, và hoàn thiện hơn. Nói cách khác, tiết độ không có nghĩa là từ bỏ, là cắt đứt, nhưng là nhận ra khả năng làm chủ của mình trước những ước muốn hay cảm xúc có thể ập đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Mọi hành động của con người điều được hình thành từ lối suy nghĩ. Chúng có thể đã ẩn chứa trong tiềm thức, vô thức, và nổi lên trong ý thức; sau đó sẽ dẫn đến hành động. Như thế, để có thể tập nhân đức tiết độ, trước hết và trên hết, chúng ta cần tập cho chúng ta có khả năng làm chủ dòng suy nghĩ của mình. Chúng ta được mời gọi gội rửa từng ngày lối suy nghĩ bất chính, nhỏ hẹp, dục vọng ích kỷ, hay tham lam. Chúng là hậu quả của những lần chúng ta bị ô nhiễm bởi môi trường sống mà chúng ta – một cách vô tình hay chủ ý, đã để cho mình bị vẫn đục. Cần gội rửa từng ngày với dòng nước trong sạch mới có thể điều chỉnh lại lối suy ghĩ của mình.

Cũng như câu chuyện của thầy Macarius và chàng thanh niên trên, thầy chỉ con đường thánh thiện mà chàng thanh niên nên theo – không phải con đường từ bỏ điều gì lớn lao bên ngoài, nhưng chính là tập làm chủ lấy suy nghĩ của mình – Sự thánh thiện không lệ thuộc vào lời phê bình hoặc ca tụng của người khác, nhưng tuỳ thuộc vào khả năng điều chính những khát vọng của mình và hướng chúng đến sự viên mãn. Dù được khen ngợi hay bị phê bình, xét cho cùng, chúng cũng không thể thay đổi vận mạng con người mình nếu mình đừng để chúng khống chế đời mình.

* * *

Chuyện một cậu bé trai và bé gái chơi chung với nhau. Cậu bé có nhiều viên bi sáng trong, trong khi cô gái có những viên kẹo ngọt thơm. Cậu bé đề nghị với cô gái là hãy đổi cho cậu kẹo ngọt, phần cô gái nhận lại những viên bi sáng trong. Cô bé đồng ý và đưa kẹo cho cậu bé. Phần cậu bé, cậu thò tay vào túi và đưa cô bé những viên bi cho cô bé, trừ viên lớn nhất và đẹp nhất. Tối hôm ấy, cô gái ngũ thật ngon và vui thích với những viên bi mình đang sở hữu. Còn cậu bé không thể ngũ được vì cậu cứ băn khoăn rằng liệu cô bé có giữ viên kẹo to và ngọt nhất như cậu đã giữ lại viên bi to và đẹp nhất không?[2]

Câu chuyện thật giản dị nhưng thâm thuý. Từ đâu mà hai đứa bé có hai lối suy nghĩ khác biệt nhau như thế? Khi để dòng suy nghĩ dục vọng ích kỹ chiếm hữu chúng ta, chúng ta mất quân bình. Hành động chọn giữ lại viên bi lớn nhất là hậu quả của sự thiếu khả năng tiết độ trong suy nghĩ. Còn hành động vô tư cho hết kẹo của bé gái là hoa quả của lối suy nghĩ tiết độ – không ích kỷ lo cho mình.

Lời mời gọi cho tôi và bạn là cùng giúp nhau tạo lối suy nghĩ tiết độ – không ích kỷ lo cho mình, để mình được tự do hơn và bình tâm hơn mà ca tụng Chúa.

“Xin cho điều con mặc niệm trong tâm

và lời con thốt ra từ môi miệng,

luôn đẹp ý Ngài,

lạy Thiên Chúa là đá tảng và là Đấng Cứu Độ con” (Ps. 19:14).

Fr. Huynhquảng

[1] Belden Lane, Desert Catechesis: The Landscape and Theology Early of Christian Monasticism, p.169 (Anglican Theological Review,1993).

[2] http://academictips.org/blogs/give-your-best-to-relationships/(accessed, July 26, 2012)

 

Hang Động Sợ Hãi

Hang dongTại một khu làng nọ, nhiều người dân sống trong sự sợ hãi vì phía cuối làng có một hang động mang tên “Hang động sợ hãi.” Sở dĩ có tên gọi này là vì hể ai đi vào hang động thì nghe một tiếng thật ghê sợ và không thấy người ấy trở ra nữa. Mọi người trong ngôi làng tin rằng trong hang động đó có một con yêu quái kinh sợ; những tiếng kêu ghê sợ ấy như nhắc nhở người dân trong làng phải cúng nộp thức ăn hằng ngày cho nó nếu không muốn quái vật đi ra khỏi hang động để tìm thức ăn và bắt người. Vì lẽ đó, dân làng thay phiên nhau từng ngày mang thức ăn ngon đặt trước hang động để cho yên thân.

Sự dũng cảm trên phương diện nào cũng được bắt đầu từ sự dũng cảm với chính mình


Vào một ngày nọ, có một vị khách đến thăm ngôi làng và nghe kể về “Hang động sợ hãi.” Anh liền tình nguyện đi vào hang động để giáp mặt với quái vật. Sự can đam của anh đã vượt qua sự ngăn cản của nhiều người. Cuối cùng, không thể thuyết phục được anh, dân làng cũng đưa tiễn anh đến hang động. Cuối cùng chỉ có mình anh tiến gần và từng bước cẩn thận vào hang. Với bó đuốc trên tay, anh chậm chậm tiến vào hang động; từng bước, anh tiến thật xâu vào hang. Bất thình lình anh nghe một tiếng hét rất nghê sợ phát ra và liền ngay sau đó anh bị một cú đánh bất ngờ và gục xuống; trong hoảng loạng tăm tối, anh thầm nghĩ là anh bị quái vật tát vào đầu anh. Anh la lên thật lớn với hy vọng dân làng trên miệng hang có thể nghe tiếng la của anh – tiếng kêu chào vĩnh biệt – “Tôi sắp bị quái vật nuốt chửng.” Sau tiếng la, anh bị choáng váng và bất tỉnh. Một hồi sau khi tỉnh lại, anh nghe tiếng nhạc ca hát và tiếng nói cười của một số người. Họ mời anh nhập bọn với họ. Họ cho anh biết, thực ra không có quái vật nào ở đây cả. Nhưng đây là sáng kiến của một vị bô lão trong làng để kiếm tìm người dũng cảm nhằm phục vụ và bảo vệ dân làng khi có nguy biến. Những ai vượt qua được quan niệm sợ hãi của xã hội và dư luận dựng nên, người ấy sẽ được chọn vào nhiệm vụ đặc biệt này – ngày ngày họ được học hỏi, luyện tập để trở nên những người tài giỏi; và cuối ngày, họ cùng chung vui những bữa tiệc thịnh soạn do người dân làng “cống nộp” cho họ trước cửa hang động[1].

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Bạn thân mến, câu chuyện minh hoạ trên giúp chúng ta suy niệm về nhân đức dũng cảm – một trong bốn nhân đức nhân bản trong chủ đề nhân đức của mục Sống Sao Cho Đẹp.

Vậy dũng cảm là gì? Theo nghĩa nhân bản tự nhiên: Dũng cảm là khả năng dám đối đầu với khó khăn, sóng gió của cuộc đời và của chính bản thân mình. Còn theo nghĩa Kinh Thánh: Dũng cảm là khả năng dám đối đầu với khó khăn, sóng gió của cuộc đời và chính bản thân mình vì vâng lời Thiên Chúa với sự xác tính rằng Thiên Chúa sẽ trợ lực và giúp sức mình vượt qua thử thách. Hiểu được nhân đức dũng cảm, chúng ta nhận thấy sự cần thiết biết bao để sống và áp dụng nhân đức này trong cuộc đời chúng ta. Dũng cảm không chỉ giúp chúng ta cầm khí giới để bảo vệ quê hương dân tộc với một ý chí sắt đá, nhưng dũng cảm còn cần được giáo dục và luyện tập cho con tim và khối óc để khi đối diện với những sóng gió trong đời thường của mình, chúng ta cần có sự dũng cảm để đương đầu với thử thách nghịch cảnh.

Thực là như vậy. Một cậu học sinh cần được hiểu nhân đức dũng cảm để khi bước vào phòng thi với tất cả lòng kiên định hoành thành bài thi cho tốt thay vì là bước vào phòng thi với tâm trạng bị bắt buộc, nín lặng làm cho “qua phà.” Quyết định lập gia đình cũng là một sự dũng cảm với trách nhiệm xây dựng gia đình mới, thay vì là bước vào hôn nhân như một hành vi bị thôi thúc bởi tình cảm hời hợt chóng qua. Chọn lấy đời tu, khấn dòng để trở nên một tu sĩ, linh mục cũng là một hành động dũng cảm đối diện vời trăm bề thử thách trong tương lai mà mình không biết được. Chúng ta thật cần nhân đức dũng cảm biết bao để khi đã chọn rồi – dù ở bậc sống và ơn gọi nào, mỗi chúng ta cần tiếp tục chọn lựa để đi cho đến cùng – dù có lúc thất bại, chán chường, hay ngã quị – Dũng cảm giúp chúng ta đứng lên đi tiếp.

Thực ra, sự dũng cảm trên phương diện nào cũng được bắt đầu từ sự dũng cảm với chính mình. Nói cách khác, tất cả mọi sự chiến thắng đều khởi đi từ chiến thắng chính bản thân mình. Chúng ta cũng cần khiêm tốn thú nhận với nhau một thực tế của thân phận con người: Chiến đấu với chính bản thân mình là cuộc chiến cam go và khó khăn nhất. Thực vậy, điều trở ngại lớn cho việc tập luyện nhân đức chính là bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hoàn hảo – “Tôi cần phải hoàn hảo; làm sao những lầm lỗi của tôi trong quá khứ có thể được tha thứ; tôi thật là người tội lỗi,…” Những lời kết án tương tự như trên tựa như những tiếng hét ghê sợ được phát ra ngay trong tâm hồn của chúng ta; chúng trở nên rào cản khó khăn nhất để chúng ta vượt qua chính mình và vượt qua sự sợ hãi – đó chính là cái “Hang động sợ hãi” sâu thẩm bên trong con người của mỗi chúng ta mà chúng ta không dám bước vào.

Thưa bạn, chúng ta được mời gọi để dũng cảm bước vào “hang động sợ hãi” trong chính con người của mình bằng việc ngẫm nghĩ và luyện tập nhân đức, đặc biệt nhân đức dũng cảm. Bước vào trong sâu thẳm của tâm hồn là bước vào cuộc đối diện với những “quái vật” – với những tiếng kêu la ghê sợ của sự phê bình, chỉ trích, dằn vặt và kết án. Nếu ta không bước vào đối diện với chúng, chúng mãi mãi sẽ làm ta khiếp sợ, mất tự do và phải tránh né nó một cách phi lý vô duyên. Với ơn Chúa và sự kiên trì dũng cảm tập luyện, cứ bước vào sâu thêm từng ngày trong “hang động sợ hãi,” dần dần ta sẽ khám phá ra những “quái vật” đó cũng chỉ là “quái vật” giả – hoặc nếu có thật, thì chúng cũng đã bị “đạp đầu” (x. Gn 3:15) từ lâu rồi.

Chúng ta cùng cầu chúc nhau thật dũng cảm bước vào “hang động sợ hãi” của lòng mình để được tham dự tiệc vui dành cho những người dũng cảm.

Fr. Huynhquảng

[1] Dựa theoThe Cave of Fear” trích từ http://freestoriesforkids.com/children/stories-and-tales/cave-fear

Cây phiền muộn

Posted by

Chú Báo Đêm

bao conTrong một khu rừng nọ có một chú báo thường tìm chỗ ngủ trên khúc cây kín đáo ở giữa rừng. Một đêm kia, chú bất chợt nghe động tỉnh trong khu rừng. Đêm ấy, chú đã phát hiện một kẻ trộm đã lẻn vào khu rừng. Dầu vậy, chú vẫn coi như không có chuyện gì. Liên tiếp nhiều đêm liền, chú báo thấy rõ kẻ ăn trộm vào rừng tay không, nhưng khi ra về thì tay xách nách mang. Đôi khi kẻ trộm lấy chuối của bầy khỉ, lúc khác nó lấy bộ râu của sư tử, lúc thì nó trộm cái chuổi đuôi của ngựa vằn, thậm chí nó cũng lấy luôn cặp ngà giả của chú voi già đã kín đáo mang bấy lâu. Tất cả những hành động của kẻ trộm không qua mắt được chú báo đêm, tuy nhiên có điều là chú báo vẫn giữ im lặng không cho ai biết vì cho rằng đây không phải là việc của chú. Cứ mỗi đêm chú thích thú nằm trên khúc cây kín đáo quan sát kẻ trộm đột nhập vào rừng và lấy đi tài sản của bạn hữu mà chẳng lên tiếng báo động và tố cáo kẻ trộm cho một ai biết.

Không lên tiếng trước sự bất công gian trá là có lỗi với lương tâm của mình và vi phạm đức công bình với đồng loại


→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Ngày qua ngày, khu rừng trở nên xáo trộn vì nhiều tài sản của các con vật mỗi ngày bị biến mất, dầu vậy chú báo đêm cũng chẳng lên tiếng để giúp bạn hữu. Bổng đi một thời gian, chú báo không thấy kẻ trộm lui tới nữa. Chú báo tự nghĩ có thể không còn gì để lấy, nên kẻ trộm không cần quay lại nữa. Sau một thời gian không thấy tên trộm, chú báo dần dần quên đi và ngủ say giấc mỗi khi đêm về. Một đêm nọ khi đang say sưa ngủ trong khúc cây kín đáo của mình, bổng giật mình tỉnh dậy, chú báo phát hiện ra cả khúc cây và người của mình đang bồng bềnh trên mặt nước trong một hang động. Mở mắt nhìn xung quanh, chú báo khám phá ra nhiều tài sản của bạn hữu đã bị đánh cắp cũng nằm trong hang động. Hoá ra là đang khi ngủ say, kẻ trộm đã đánh trộm món hàng cuối cùng là khúc gỗ mà chú báo ẩn náu. Kẻ trộm muốn dùng khúc gỗ để làm nhà kho chứa những tài sản mà nó đã trộm được từ những con vật khác.

Nhân khi kẻ trộm chưa phát hiện ra mình, chú báo tức tóc chạy về báo các bạn và kêu mọi người tới lấy lại tài sản của mình. Ai ai cũng cám ơn và ca ngợi chú báo vì đã giúp họ tìm lại tài sản của mình. Còn riêng chú báo đêm, vì khúc gỗ đã bị cưa, nên nơi trú ẩn của chú cũng mất; từ đó trở đi chú không còn nằm yên nhàn như trước, nhưng mỗi đêm chú phải lang thang không có chỗ nghỉ với tâm trạng hối tiếc vì sự im lặng bất công của mình.

* * *

Bạn thân mến, câu chuyện ngụ ngôn trên mời gọi ta suy nghĩ về đức công bình mà chúng ta đang học hỏi qua mục Sống Sao Cho Đẹp. Khái niệm thông thường của đức công bằng có thể được hiểu đơn giản như sau: Đức công bằng đòi buộc ta tôn trọng mạng sống, danh dự, tài sản của người khác. Đức công bằng bao gồm hai chiều kích: Luân lý và xã hội. Về mặt luân lý cá nhân, công bằng được hiểu rằng những gì không là của ta, thì không thuộc về ta, nên ta không được xâm phạm những giá trị ấy một cách bất hợp pháp. Về mặt xã hội, công bằng được hiểu dưới hình thức luật pháp nhằm đem lại điều tốt lành chung cho cho xã hội và cộng đồng mà mình đang sống. Vì lẽ đó, theo Aristotle, “Công bằng liên quan đến sự đồng đều trong việc phân phát và cũng như trong việc sửa sai những gì sai trái và bất công.”[1] Nói cách khác, công bằng giúp ta có ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng điều tốt và xoá bỏ điều xấu trong cộng đồng của mình.

Câu chuyện Chú Báo Đêm nhắc nhở chúng ta khía cạnh trách nhiệm của chúng ta với cộng đồng, xã hội. Chú báo chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác; chú yên vị trong khúc gỗ kín đáo của mình để mặc cho kẻ trộm tung hoành ngang dọc. Không lên tiếng trước sự bất công gian trá là có lỗi với lương tâm của mình và vi phạm đức công bình với đồng loại. Để cho lương tâm mình chai lì trước sự gian trá là có lỗi với chính mình, và không lên tiếng cho người bị áp bức là không chu toàn phận vụ làm người trong cộng đồng mình đang sống.

Bạn thân mến, có lẽ chúng ta thường để ý đế đức công bằng về khía cạnh luân lý cá nhân. Đối với nhiều người, khi không lấy cắp của ai, khi không gây tổn thương danh dự của ai, và khi không hãm hại mạng sống của ai, điều đó chúng ta đã sống đức công bằng. Lý luận như thế là đúng nhưng chưa đủ. Vì nếu chọn lối sống như thế, chúng ta cũng không khác lắm như hình ảnh của chú báo trong câu chuyện. Chú báo chẳng hề hại và xâm phạm tài sản của ai, nhưng hậu quả mà chú để lại thì đã rõ, hậu quả ấy không chỉ cho cộng đồng của chú, mà là chính bản thân chú cũng hứng chịu. Bài chia sẻ hôm nay nhắc nhở cho mỗi chúng ta cần sống đức công bình đặc biệt trong khía cạnh công bằng xã hội. Vần thơ “Sống” của Phan Bội Châu, một người con đất Việt hết lòng yêu nước, đáng sốc chúng ta dậy, đặc biệt trong bối cảnh sống của xã hội chúng ta hôm nay.

 

“Sống tủi làm chi đứng chật trời!

Sống nhìn thế giới hổ chẳng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến,

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước.

Sống lo phú quý, chẳng lo đời.

Sống mà như thế, đừng nên sống!

Sống tủi làm chi, đứng chật trời.”

Fr. Huynhquảng

[1] Western Theories of Justice, http://www.iep.utm.edu/justwest/

Chuyện đời…

rescueMỗi một hành động của con người đều là sự biểu hiện của một sự chọn lựa mà sự chọn lựa ấy có thể đến từ nhiều động cơ khác nhau: lương tâm, phục vụ, mối lợi, dự luận, hay thậm chí vì sợ hãi. Kỳ này, mục Sống Sao Cho Đẹp mời gọi bạn học hỏi nhân đức khôn ngoan. Khôn ngoan là một trong bốn nhân đức nhân bản chính yếu, hay còn gọi là nhân đức bản lề. Theo Giáo lý Công giáo, “Khôn ngoan là đức tính giúp lý trí thực tiễn trong mọi hoàn cảnh nhận ra điều thiện đích thực và chọn lựa những phương thế tốt để đạt tới” (GLCG 1806). Nói cách khác, “Nhờ đức tính này (khôn ngoan), chúng ta áp dụng đúng đắn các nguyên tắc luân lý vào từng trường hợp cụ thể, và không còn do dự về điều thiện phải làm và điều ác phải tránh” (GLCG 1806). Xin mượn câu chuyện được sưu tầm từ email của một người bạn HL để minh hoạ cho chủ để nhân đức khôn ngoan trong kỳ này.

Trong anh em, ai thiếu khôn ngoan, hãy kêu xin cùng Chúa, tất Ngài sẽ ban cho dư dật.” (Gc 1,5)

* * * → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Một con tàu du lịch gặp nạn trên biển, trên thuyền có một đôi vợ chồng rất khó khăn mới lên đến trước mũi thuyền cấp cứu , trên thuyền  chỉ có… thừa duy nhất 1 chỗ ngồi. Lúc này, người đàn ông để vợ mình ở lại, còn bản thân nhảy lên thuyền cấp cứu . 

Người phụ nữ đứng trên con thuyền sắp chìm, hét lên với người đàn ông một câu… Kể đến đây, thầy giáo hỏi học sinh: “Các em đoán xem, người phụ nữ sẽ hét lên câu gì?”

Tất cả học sinh phẫn nộ, nói rằng: “Em hận anh, em đã lấy nhầm người rồi.”

Lúc này thầy giáo chú ý đến một cậu học sinh mãi vẫn không trả lời, liền hỏi cậu bé.

Cậu học sinh đáp: “Thầy ơi, em nghĩ người phụ nữ sẽ nói: Chăm sóc tốt con của chúng ta anh nhé!”

Thầy giáo ngạc nhiên hỏi: “Em nghe qua câu chuyện này rồi ư?”

Học sinh lắc đầu: “Chưa ạ, nhưng mà mẹ em trước khi mất cũng nói với bố em như vậy.”

Thầy giáo xúc động, “Em trả lời rất đúng.”

Người đàn ông được cứu sống trở về quê hương, một mình nuôi con gái trưởng thành. Nhiều năm sau, anh ta mắc bệnh qua đời, người con gái lúc sắp xếp kỷ vật, phát hiện quyển nhật ký của bố. Hóa ra, lúc mẹ và bố ngồi trên chiếc tàu ấy, người mẹ đã mắc bệnh nan y, trong giây phút quyết định, người chồng đã dành lấy cơ hội sống duy nhất về phần mình. Trong nhật ký viết rằng : “Anh ước gì anh và em có thể cùng nhau chìm xuống đáy biển, nhưng anh không thể. Vì con gái chúng ta, anh chỉ có thể để em một mình ngủ giấc ngủ dài dưới đáy đại dương sâu thẳm. Anh xin lỗi.”

Kể xong câu chuyện, phòng học trở nên im ắng, các em học sinh đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện này: Thiện và ác trên thế gian, có lúc lắm mối rối bời, khó lòng phân biệt, bởi vậy đừng nên dễ dàng nhận định người khác.

* * *

Chuyện đời… giúp chúng ta thấy người chồng đã hành động một cách khôn ngoan. Trong nháy mắt và quyết đoán, người chồng hành động theo động cơ lương tâm chân thật phù hợp với hoàn cảnh thực tế, không chỉ trong hiện tại mà còn hữu ích cho tương lai.

Muốn hành động khôn ngoan phải có 3 yếu tố: “Suy nghĩ cho chín chắn, quyết định cho khôn ngoan và thực hành cho chu đáo.”[1] Thiếu suy nghĩ trước khi hành động là thói quen của nhiều người trong chúng ta. Chúng ta thường hay hành động theo cảm tính – tức là được thúc dục bởi cảm tính nên chúng ta hành động. Lấy ví dụ điển hình như sau để minh hoạ cho việc hành động theo cảm tính. Người công giáo Việt Nam thường tỏ thái độ quí mến quí linh mục tu sĩ. Quí mến và kính trọng các ngài là điều đúng, tuy nhiên vì do cảm tính, mà chúng ta dễ bị lẫn lộn giữa phục vụ bác ái và quí mến theo dạng cảm tính. Có một số gia đình mỗi khi tu sĩ linh mục ghé thăm thì lúc nào cũng có cảm tính như là mình có trách nhiệm gởi tặng cho tu sĩ một món quà gì đó. Nếu không gởi thì thấy sao sao… cái sự “sao sao” đó là do cảm tính chứ không phải tinh thần phục vụ và tỏ lòng kính mến. Vì thực tế, đâu phải bất cứ linh mục tu sĩ nào ghé thăm cũng nhằm mục đích tìm sự giúp đở cho công việc từ thiện hay xây dựng. Nếu chúng ta chịu ngồi lại suy nghĩ để lắng nghe, xem xét hoàn cảnh thực tế, nhu cầu thực tế… thì có lẽ chúng ta sẽ làm những việc hiệu quả hơn cho những nhu cầu thực tế hơn.

Chính vì lẽ đó, đức khôn ngoan giúp ta suy nghĩ để xét đến kinh nghiệm của mình và của người, hoàn cảnh của mình và của người. Vì lẽ đó, khi phải đối diện với những quyết định quan trọng, ta nên áp dụng đức khôn ngoan trong việc suy nghĩ, kể cả bàn hỏi với người khôn ngoan, kinh nghiệm khi cần thiết.

Học và tập nhân đức khôn ngoan cần thời gian và kinh nghiệm, và nhất là sự cầu nguyện. Thánh Giacôbê dạy rằng, “Trong anh em, ai thiếu khôn ngoan, hãy kêu xin cùng Chúa, tất Ngài sẽ ban cho dư dật.” (Gc 1,5). Với ơn thánh của Chúa, chúng ta sẽ nhìn lại quá khứ và dự phóng cho tương lai. Với ơn thánh của Chúa, chúng ta sẽ nhận ra những giới hạn và những khả năng trong con người mình. Đây là việc làm suốt cả đời người. Chúng ta cầu chúc và cầu nguyện cho nhau để được ơn khôn ngoan, hầu những chọn lựa của chúng ta dù lớn hay nhỏ luôn luôn theo ý Chúa.

Fr. Huynhquảng

[1] http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/TuDuc/160LuyenTapNhanDuc.htm

Căn nhà

Mahatma Gandhi