Học Hỏi về Thánh Lễ – Understanding the Mass

Posted by

Lời Giới Thiệu

“Việc cử hành Thánh Lễ, với tính cách là hành động của Ðức Kitô và của dân Thiên Chúa, được tổ chức theo phẩm trật, là trung tâm toàn bộ đời sống Kitô giáo, đối với Hội Thánh toàn cầu, cũng như Hội Thánh địa phương và đối với từng tín hữu. Thật vậy, trong việc cử hành này, hành động Thiên Chúa thánh hóa thế gian trong Ðức Kitô, và việc phụng tự mà nhân loại dâng lên Chúa Cha, để thờ lạy Ngài nhờ Ðức Kitô, Con Thiên Chúa trong Chúa Thánh Thần, đạt tới điểm cao nhất. Hơn nữa, trong Thánh Lễ, các mầu nhiệm ơn cứu chuộc được kính nhớ qua chu kỳ một năm, khiến mầu nhiệm này được hiện tại hoá một cách nào đó. Còn các hành động thánh khác và tất cả các công việc của đời sống Kitô hữu đều gắn liền với Thánh Lễ, phát xuất từ Thánh Lễ và hướng về Thánh Lễ.” (Qui chế Tổng quát Sách Lễ Roma #16).

Với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa đã chọn gọi, gia đình đã nuôi dưỡng, quý giám mục, linh mục, giáo sư đã truyền dạy nâng đỡ, quý ân nhân bạn hữu đã đồng hành chia sẻ, cộng đoàn dân Chúa yêu thương cầu nguyện, món quà Học Hỏi về Thánh Lễ, ngắn gọn và gần gũi, được gởi tặng đến Giáo Đoàn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam thuộc Giáo phận St. Petersburg và mọi người thân nhân dịp kỷ niệm năm năm hồng ân Linh mục.

Học Hỏi về Thánh Lễ được biên soạn dưới dạng hỏi thưa bằng hai ngôn ngữ Anh-Việt, phần lớn được dựa vào hai nguồn tài liệu Modern Liturgy Answer the 101 Most-Asked Questions about Liturgy do Nick Wagner (Resource Publications Inc., 1995), và The Mass do Edward Sri (Ascension Press, 2011).

Hy vọng tài liệu Học Hỏi về Thánh Lễ giúp mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về Thánh Lễ, nhằm yêu quý Thánh Lễ tha thiết hơn, và đủ sức mạnh để hiến lễ mỗi người được dâng đẹp hơn.

Nguyện  xin Chúa Kitô Linh Mục Tối Cao ban tình yêu và bình an cho anh chị em.

St. Petersburg, ngày 18 tháng 5 năm 2018

Linh mục Gioan Nguyễn Vũ Việt

Quản nhiệm Giáo Đoàn Các Thảnh Tử Đạo Việt Nam

Thanh Kẹo Gum

Posted by

Vào mùa hè năm 1997, một sinh viên của lớp 2A18 của trường Đại học Huflit, Sài gòn, tham gia một khoá huấn luyện quân sự tại Công viên Gia Định. Vào giờ giải lao, các sinh viên tụ tập lại bóng cây nghỉ ngơi, ca hát, tán ngẫu. Sau một vài ngày đầu, chàng sinh viên bắt đầu làm quen với địa điểm và cũng bắt đầu chú ý tới môi trường xung quanh của Công viên. Chàng cũng bắt đầu quan sát và nhận thấy bên cận những người lớn bán Gum, kẹo, nước trà đá, cũng có một số trẻ em buôn bán những món này.

Một buổi trưa nọ, một chú bé bán Gum tiến đến mời chàng sinh viên mua Gum; vốn là sinh viên nghèo từ tỉnh lên thành phố, việc mua một thanh Gum cũng là điều cần đắn đo suy nghĩ cho buổi cơm ở quán xích-lô cho chiều nay. Dẫu vậy, ánh mắt và lời mời của đứa bé đã thuyết phục được cậu sinh viên. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

“Em bán Gum nhưng có bao giờ em ăn chưa?” Chàng sinh viên hỏi.

“Làm gì có anh. Tiền đâu mà ăn.” Với giọng điệu ngạc nhiên, cậu nhanh nhẹn đáp.

“Thế em bán Gum bao lâu rồi?”

“Dạ gần hai năm.”

“Mùa hè em bán thêm có phải không?” Chàng sinh viên tiếp tục.

“Không anh, em bán luôn. Đây là “nghề” của em.”

“Vậy là em không đi học, đúng không? Quê em ở đâu?”

Như một giọt nước tràn ly, đứa bé chân thành chia sẻ. “Em ở Thái Bình. Ba em mất, gia đình em có ba anh em. Em là con lớn. Má không có tiền cho tụi em đi học. Em xin mẹ cho em vào Nam để kiếm tiền. Em đi với một nhóm bạn. Hy vọng giúp tiền cho em của em đi học.”

Khoé mắt chàng sinh viên cay cay khi nghe em bé chỉ mới trên mười tuổi mà đã phải bôn ba kiếm sống và lo cho mẹ, cho em.

“Em bán cho anh hai cây” Chàng sinh viên lấy tiền đưa cậu bé và tiếp, “Cây này cho em, cây này cho anh. Em ăn đi.” Cậu bé dấu tiền vào túi áo và mở đôi mắt ngạc nhiên. “Sao, anh cho em?!”

“Ừ, đúng vậy! Em ăn thử cho biết nó ngon không.”

Cậu bé lúng túng mở giấy kẹo Gum như tỏ rõ cậu chưa bao giờ nếm hương vị của những cây Gum mà cậu hằng ngày phục vụ cho khách hàng.

Tiếp vào những ngày sau, cậu bé tìm đến chàng sinh viên để trò chuyện, cậu bé tâm sự.

“Mỗi tháng, em phải kiếm ít nhất 140 ngàn đồng. Em phải gởi về cho mẹ một nửa, còn một nửa em trả cho nhà trọ và ăn uống. Có những lúc em không có đủ để gởi về cho mẹ, em lo lắm vì không biết mẹ và các em sẽ ra sao.” Chàng sinh viên vẫn tiếp tục lắng nghe.

Sau hơn một tuần lân lê với nhau vào những giờ nghỉ, chàng sinh viên như ý thức hơn về sứ mạng của mình – giới thiệu đức tin cho cậu bé. Chàng cố ý để lộ cây thánh giá bằng I-nóc cho cậu bé thấy. Cậu bé thắc mắc.

“Anh đeo thánh giá dẹp quá” cậu bé khen.

“Ừ, em thích không? Bà nội tặng cho anh đó.” Chàng sinh viên đáp.

“Em ở gần nhà thờ, nhà thờ có cây thánh giá to lớn lắm. Hằng ngày em nghe tiếng chuông, em muốn đi lễ vì tụi bạn nó đi hằng ngày, nhưng mẹ em không cho vì sợ…” Cậu bé ngập ngừng không dám nói. Chàng sinh viên cũng có thể đoán hiểu được sự e sợ của người dân sống tại Miền Bắc dưới sự dòm ngó của chính quyền vô thần.

Cậu bé tiếp, “Làm cách nào để em đi lễ được, em muốn lắm.”

Tới đây, chàng sinh viên nhìn cậu bé âu yếm và đám. “Anh sẽ giúp em nếu em muốn.”

Thế là từ ngày ấy, khoảng 30 phút giải lao, hai anh em tìm một nơi riêng để “học đạo.” Cậu bé vui và hớn hở như đã tìm được một kho tàng mà lâu nay hằng mong mỏi. Những kinh quen thuộc, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, những câu hỏi đơn sơ chân thành của cậu bé về dấu thánh giá, về Mẹ Maria, về Chúa Ba Ngôi dần dần, mỗi ngày một ít được giới thiệu và chia sẻ.

Cuối cùng, cậu bé hỏi, “Anh cho em theo đạo được không?”

“Được” Chàng sinh viên đáp. “Nhưng tốt hơn em nên được rửa tội trong nhà thờ, ví dụ như nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng.”

“Không, em muốn anh rửa tội cho em, vì em sợ là em không thể tới đó được. Và em cũng không biết ai ở đó.” Với tấm lòng chân tình của đứa bé đủ trí khôn đã thúc dục chàng sinh viên suy nghĩ nghiêm túc về lòng khao khát của đứa bé.

Một vài ngày sau, chàng sinh viên và thêm một cô bạn Công giáo, đưa cậu bé ra một vũng nước tại Công viên Gia Định, bảo cậu bé tuyên xưng đức tin một Chúa Ba Ngôi của Giáo hội Công giáo và cậu bé đã được rửa tội. Quà tặng cho cậu bé chính là cây thánh giá I-nóc, và tiệc mừng là một thanh keo Gum cho cả ba.

* * *

Mẹ Têrêsa nhắn nhủ, “Mang Chúa đến cho người và mang người đến cho Chúa.” Đó chính là sứ mạng của người Kitô hữu – người mang Chúa – mang Lòng Thương Xót. Xã hội chúng ta vẫn còn nhiều mãnh đời éo le như thế lắm. Một thanh kẹo Gum đã liên kết hai con người với nhau; một thanh kẹo Gum đã dẫn họ đưa họ gặp nhau trong đức tin Công giáo; và cũng chính thanh kẹo Gum đã làm cho tình thương xót được biểu lộ.

Ước mong em bé ngày nào giờ đây là một thanh niên thành đạt và nếu em đọc được những lời tâm sự này, thì xin em nhận nơi anh lời cám ơn vì sự đơn sơ đón nhận Đức tin của em. Nhờ em, anh đã học và tập sống lòng thương xót trong cuộc đời mình.

Fr. Huynhquảng

Khối óc, Con Tim và Thân Xác

Gia đình thật vui, đặc biệt vợ của ông P. không thể dấu được hết niềm vui khi cho Cha xứ biết ngay:

“Chồng con mới về sau hơn năm năm ở tù. Cám ơn Cha đã cầu nguyện cho anh.”

“Tôi muốn đến thăm anh ấy có được không?” Cha xứ đáp.

“Dạ xin mời Cha.” Người vợ phấn khởi mời Cha xứ.

Vài ngày sau, cha xứ đến thăm gia đình người cựu tù nhân. Ông tỏ ra vui tươi khi gặp Cha xứ; tuy vậy, niềm vui của ông nhanh chóng tan dần để nhường cho mối lo âu không tránh khỏi hiển hiện trong thái độ và lời nói.

“Thưa Cha, trở về…. chẳng phải dễ chút nào!”

“Xin ông vui lòng chia sẻ thêm.” Cha xứ khuyến khích.

“Con hận lắm, hận cái thể chế cầm quyền này, quá tàn nhẫn, quá vô nhân đạo… con đã học được điều gì sau năm năm ở tù? Thưa không. Không một điều tốt, ngược lại chỉ toàn là sự xấu xa cặn bã của xã hội. Trí nhớ con mất, trái tim con chai lì, và thân xác con tiều tuỵ. Dầu sao con cũng đã được về, nhưng cái khó nhất của con bây giờ là sự trở lại với gia đình, với con cái, với bạn bè, với cộng đồng. Con thấy khó quá vì mọi sự đã thay đổi.”

Vị linh mục nhìn người cựu tù nhân với ánh mắt thông cảm như mời ông chia sẻ tiếp: “Trong những muôn vàn khó khăn ông đang đương đầu, theo ông, điều khó nhất cho ông lúc này là điều gì?”

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

“Thưa, đó là con thấy rất khó để đền đáp tình thương của người vợ đã dành cho con. Trong năm năm qua, chỉ khoảng năm cuối tuần cô ấy không thể đến thăm con, còn lại tất cả các Chủ Nhật, cô đều lái xe hơn ba tiếng để đến thăm con. Tình yêu của vợ con dành cho con quá lớn và giờ đây khi con trở về, con rất lúng túng trước tình yêu ấy… con không biết mình sẽ bắt đầu yêu vợ mình như thế nào? Con nên làm gì để chứng tỏ rằng con yêu vợ con? Con muốn bù đắp cho cô ấy thật nhiều, nhưng con bối rối không biết bắt đầu từ đâu? Vì lẽ đó, con trở nên cáu gắt, nóng giận và không kiên nhẫn với nàng trong những ngày qua… con yêu nàng lắm, nhưng con đã gây đau khổ cho nàng thật nhiều.”

Vị linh mục nhìn người đàn ông với ánh mắt cảm thông dịu dàng hỏi:

“Ông lái xe lại chưa?”

“Dạ rồi.” Người cựu tù nhân đáp.

“Khi ông lái xe lên đường cao tốc, anh hoà nhập vào con đường đó bằng cách nào?” “Dạ, con phải nhập vào từ từ, phải nép vào lề, mở đèn xi-nhan, nhìn kính chiếu hậu và

từ từ tăng tốc dộc theo đường cao tốc.”

“Ông nghĩ thế nào nếu ông cho xe chạy thật nhanh và tạt ngang vào đường cao tốc?” Cựu tù nhân đáp,

“Không thể được, tai nạn sẽ xảy ra nếu con lái xe như thế.”

Linh mục nhìn ông đáp, “Ông cũng thế, ông cần có thời gian để hoà nhập, để nhìn đường, để mở đèn xi-nhan, và dần dần tăng tốc. Ông biết hậu quả của việc tăng tốc và cắt ngang xen vào đường khi hoàn cảnh chưa cho phép….  Ông cần thời gian để những vết thương thể xác và tinh thần của ông được chữa lành!”

* * *

Từ tác phẩm Breating Under Water: Spirituality and the Twelve Steps của tác giả Richard Rohr, trong tiến trình chữa lành và bình phục thể xác và tâm hồn, ba bộ phận sau đây nhất thiết cần phải được quan tâm mở rộng: Đầu óc bảo thủ, trái tim khép lại, và cơ thể phòng thủ (tr.8). Nếu một trong ba yếu tố ấy không được mở tung ra, thì tiến trình chữa lành thể xác và tinh thần sẽ không có hiệu quả.

Một người có đầu óc bảo thủ vẫn thường khoanh vùng những suy nghĩ của mình trong một phạm vi nhất định mình không muốn, hay không dám suy nghĩ ra khỏi phạm vi ấy. Khốn thay, vì bị khoanh vùng trong một phạm vi nhất định, nên sự suy nghĩ và nhận định về hoàn cảnh xã hội mất đi sự khách quan. Tiến trình hồi phục sẽ rất khó khi mình vẫn sống dưới lớp vỏ bảo thủ. Cũng vậy, một người có trái tim khép kín thường rất lúng túng khi yêu ai bởi vì họ cũng rất khó khăn cảm nghiệm được tình yêu của người khác. Trái tim trở nên khô cứng không phải vì họ không yêu, nhưng bởi vì họ đóng kín trái tim mình lại theo những phạm vi cố định mà khối óc đã áp đặt cho họ. Sự cáu gắt nóng giận không phải là điều họ muốn, nhưng đó là di chứng của trái tím bị khép kín. Cuối cùng, một cơ thể phòng thủ thường hay biểu hiện sự không cân bằng trong việc coi thường thân xác mà chỉ chú trọng đến khía cạnh tinh thần của khối óc và con tim. Từ chối những nhu cầu căn bản của thân xác con người (ăn uống, nghỉ ngơi, thể dục…) mà chỉ miệt mài đi tìm sự bình an trong tâm hồn sẽ dẫn đến sự mất cân bằng và làm cho tiến trình hồi phục chữa lành bị khập khiễng. Thiên Chúa đã làm người không phải chỉ làm cho có trong thân xác để chỉ nhằm cứu rỗi linh hồn mà thôi, nhưng Thiên Chúa cũng muốn thân xác chúng ta cũng được vinh hiển với Ngài (Cf. Phiplip 3:21). Nếu chỉ chú tâm thường xuyên vào việc thực hành ăn chay, hãm mình, diệt dục một cách tiêu cực nhằm từ chối những nhu cầu căn bản của thân xác mà lãng quên chăm sóc cho thân xác một cách hợp lý, đó chính là sự biểu hiện không cân bằng giữa ba thành phần khối óc, tâm hồn, và thân xác.

* * *

Trở lại cuộc gặp gỡ trên, người cựu tù đã gặp khó khăn khi trở lại cuộc sống, đặc biệt ông không biết bắt đầu như thế nào với tình yêu mà vợ ông đã và đang tiếp tục yêu thương ông. Lối suy nghĩ bảo thủ của ông về tình yêu là phải làm việc này làm việc khác để chứng tỏ mình xứng đáng. Theo ông, yêu là phải chứng tỏ bằng hành động, phải có thành quả, phải làm việc này việc nọ. Chính lối suy nghĩ này đã không giúp ông thoát ra được phạm vi yêu thương theo quan niệm của ông. Bởi vậy, trái tim ông cũng khép lại trước tình yêu của người vợ – một tình yêu vô điều kiện đã được thể hiện trong suốt năm năm qua. Khối óc cho ông biết là vợ ông yêu ông, ông cũng yêu vợ ông, nhưng trái tim không cảm được sự nhận và cho của tình yêu, nên ông vẫn cáu gắt vì trái tim ông vẫn thiếu hụt. Trở về từ nhà tù, ông gặp nhiều trở ngại đau yếu trong thân xác, vì lẽ đó, ông cũng không thể giúp vợ ông những công việc mà ông từng đã làm một cách dễ dàng như trước đây. Với một thân xác đau yếu, ông thường phàn nàn về thân xác mình. Ông nghĩ rằng, ông sẽ nên người vô dụng nếu ông không làm được những công việc như ông muốn. Ông không chấp nhận chính mình và quên đi yếu tố giới hạn của thân xác, ông lại lao vào đi kiếm tìm sự hạnh phúc chỉ bằng khối óc và con tim. Hậu quả của sự mất cân bằng và hài hoà của ba thành phần đã làm cho cựu tù nhân thêm buồn bực, nóng giận và bất mãn.  

Trong cuộc phỏng vấn dịp kỷ niệm Ngân Khấn Linh mục của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 31-5-2016, ngài suy nghĩ về sức khoẻ của Ngài như sau: “Sức khoẻ tôi khá hơn, nhưng mong manh. Tôi không còn sử dụng sức khoẻ. Nhưng phải nương theo sức khoẻ. Và phải biết chăm sóc cho nó. Đó là công bằng. Chị sức khoẻ đã được Chúa ban để giúp tôi bao nhiêu năm nay. Giờ đây đến lượt tôi phải quan tâm chăm sóc cho chị.” 

Đó cũng là lời mời cho chúng ta sống Năm Thánh Thương Xót, chúng ta được mời gọi biết thương yêu khối óc, con tim và thân xác của chúng ta. Quả đúng, lòng thương xót của Chúa dành cho chúng ta không chỉ dành ở đời sau, nhưng thực ra ngay cả ở đời này, chỉ với điều kiện chúng ta cần mở ra để đón nhận.  Vì Thiên Chúa không chỉ đến để cứu phần hồn mà thôi, nhưng còn cả phần xác. Chúng ta đã chẳng tuyên xưng “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại” trong Kinh Tin Kính đó sao?

Fr. Huynhquảng

Kẻ thù giấu mặt

Tác giả của tập sách Simple Path to Union with God của cộng đoàn Missionary of the Cross do Fr. Jordi Rivero sáng lập đã chia sẻ kinh nghiệm sau nhằm mời gọi chúng ta tin tưởng vào sức mạnh chữa lành của Chúa dành cho mỗi chúng ta, đặc biệt trong năm thánh Lòng Thương Xót.

* * *

Cứ mỗi lần tôi được mời nói chuyện trước công chúng, trong tôi xuất hiện sự sợ hãi hầu như làm tôi tê liệt. Ban đầu, tôi nghĩ là đây là phản ứng của sự nhút nhát, bẻn lẻn, nhưng sau khi nhiều lần cầu nguyện và thinh lặng dưới Thánh Giá Chúa, tôi khám phá trong tôi có thật nhiều nỗi sợ hãi. Tôi khám phá ra rằng: Nỗi sợ hãi làm đảo lộn những trật tự trong con người tôi; nỗi sợ hãi làm che đậy những sự thật khát vọng ẩn sâu bên trong tim tôi và bao phủ bằng lớp võ bộc “nhút nát, bẻn lẻn.” Vì lẽ đó, từ thời niên thiếu cho đến hôm nay, tôi đã giấu và không thổ lộ những nổi sợ hãi này với ai, và dồn nén chúng trong lòng mình. Hậu quả là tôi chỉ nhắm vào việc “đối phó” trong các mối quan hệ, hoặc tôi giữ khoảng cách, hoặc tôi im lặng, hoặc tôi không giao thiệp trong những mối quan hệ mà tôi thấy sự “nhút nhát, bẻn lẻn” xuất hiện trong con người tôi.

Sự sợ hãi là một thái độ hãm hại chúng ta. Nó làm cho chúng ta yếu nhược. Nó làm chúng ta tê liệt.


Giờ đây, sau khi đã thừa nhận và khám phá ra trong tôi có nhiều nỗi sợ hãi, tôi dần dần gọi được tên cho những nỗi sợ che mặt rất lâu trong con người tôi. Tôi thừa nhận tôi sợ bị từ chối; tôi sợ bị chê cười khinh khi, tội sợ phạm sai lầm. Bỗng tôi tự hỏi chính mình: Tại sao tôi lại sợ bị từ chối? Tại sao tôi lại sợ bị cười khinh? Tại sao tôi lại sợ bị phạm sai lầm? → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Trong sự tĩnh lặng dưới chân Thánh Giá, một ngày kia hàng loạt câu hỏi này đã dần dần cho tôi câu trả lời. Tôi thấy được những sự kiện của tuổi thơ làm cho tôi sợ hãi tái xuất hiện như cuốn phim về tuổi ấu thơ của tôi. Tôi thấy mẹ tôi tỏ ra rất giận dữ trước những lầm lỗi của tôi; không chỉ đối với riêng tôi, mà tất cả những ai trong gia đình nếu có điều gì sai sót mẹ tội dễ dàng nổi giận. Tôi thấy lại nỗi sợ hãi của tôi – là một đứa bé trước những phản ứng giận dữ của người mẹ. Khi tôi bắt đầu “chiếu lại” những hoàn cảnh ấy trong trí nhớ tôi, tôi cảm nhận từ trong tim tôi những cơn giận, sự căm ghét, dần dần tuôn ra như một dòng nham thạch của ngọn núi lửa phun ra. Sau khi những dòng nham thạch giận dữ căm ghét đã tuôn ra, tôi dần dần cũng nhận ra vết thương lòng của mẹ tôi: Một người mẹ vì vết thương lòng nên không đủ khả năng diễn đạt tình yêu dịu dàng của người mẹ dành cho con mình. Ánh mắt tôi chạm được ánh mắt của Chúa Giêsu với sự đồng cảm và thấu hiểu những vết thương mà tôi đã mang phải từ thời bé nhỏ cho đến hôm nay. Đồng thời, tôi cũng thấy ánh mắt Chúa cũng thấu chạm và ôm chầm mẹ tôi – con người cũng nhiều thương tích đáng được chữa lành. Với sự cảm nghiệm và bắt gặp ánh mắt nhìn yêu thương và đón nhận vô điều kiện của Chúa Giêsu trên Thánh giá, những cơn giận và sự sợ hãi bị ruồng bỏ, bị kết án, bị khinh thường dần dần tan đi; đồng thời, những vết thương lòng của mẹ tôi cũng được xoa dịu và chữa lành.

Sau biến cố được chữa lành này, tôi lại được Chúa tiếp tục soi rọi để nhìn thấy nguyên nhân của sự “nhút nhát, bẻn lẻn” của tôi như tôi đã đề cập trên. Bên Thánh giá, tôi được xem lại một sự kiện đã làm cho tôi dồn nén cơn giận với ba tôi từ bao năm qua. Ba và tôi cùng đi xem đội bóng của anh tôi. Tôi là người cổ vũ rất nhiệt tình cho anh tôi; mỗi khi có những pha tấn công hào hứng, và nhất là những lúc anh tôi có bóng, tôi hô hào rất lớn và nhiệt tình ủng hộ đội bóng anh tôi; sau những lần như thế, tôi liếc nhìn ba tôi để xem ông có tán thành việc tôi reo hò ủng hộ. Rất tiếc, suốt buổi đá bóng, ba tôi không hề nhìn tôi một lần. Tôi cảm thất xấu hổ và “quê” về điều đó. Khi ra về, ba tôi nhìn tôi và “phán” rằng những người ủng hộ và reo hò hôm nay thật vô duyên. Một cách gián tiếp, tôi bị kết án là muốn gây chú ý, muốn làm nổi, nhưng tôi không đáng và không nên làm như thế.

Hôm nay bên Thánh giá, tôi nhận ra rằng sự sai lầm mà Satan đã gieo vào tâm trí tôi: sự “bén lẻn, quê” là điều gì đó xấu, tệ và cần phải giấu đi. Và vì như thế, nên tôi đã giấu và dồn nén những cảm giác này không cho phép nó được tái hiện hay ai biết đến. Với cái nhìn yêu thương vô điều kiện mà Chúa cho tôi gặp được, những sự “nhút nhát và quê mùa” ấy giờ đây lại được đón nhận và chữa lành. Tôi chạm được ánh mắt của Chúa Giêsu Thánh Thể và hiểu rằng: Thực ra, một Thiên Chúa đang ở giữa con người vậy mà có ai để ý đến Ngài đâu? Nỗi đau của tôi được đồng cảm với nỗi đau của Chúa, tôi được chữa lành vì nhờ Chúa soi dẫn tôi thấy rõ nguồn gốc của sự “bén lẻn, nhút nhát” mà tôi đã dồn nén bao năm qua. Đồng thời, sự thiếu đồng cảm mà ba tôi dành cho tôi cũng có nguyên nhân chính là ba tôi cũng bị bỏ rơi và thiếu sự đồng cảm vui đùa mà ba tôi đã không hề nhận được từ ông nội.

Được chữa lành không có nghĩa là từ nay chúng ta không còn sợ hãi, nhút nhát. Nhưng được chữa lành có nghĩa là chúng ta có khả năng nhận ra và đặt tên cho những nỗi sợ hãi và những nhút nhát thiếu trật tự đó – chúng là nguyên nhân làm chúng ta bị tê liệt trong mối quan hệ với tha nhân. Khi gọi được tên chúng, chúng sẽ không có khả năng kiểm soát chúng ta, ngược lại, chúng ta lấy lại quyền làm chủ trên tạo vật (Gen 2:20). Thực vậy, Thiên Chúa muốn chúng ta có đời sống phong phú và vui tươi với khả năng làm chủ trên tạo vật, chứ không phải là nô lệ và sống trong sợ hãi (cf. Jn 10:10). Những lời nhắn nhủ sau đây của ĐGH Phanxicô củng cố niềm xác tín này, nhằm giúp chúng ta sống tự do và hạnh phúc với phẩm giá của người con Chúa:

Sự sợ hãi là một thái độ hãm hại chúng ta. Nó làm cho chúng ta yếu nhược. Nó làm chúng ta tê liệt. Người sợ hãi không dám làm điều gì và không biết sẽ làm điều gì. Người ấy chỉ tập trung bảo vệ chính mình để không cho điều tệ hại có thể xảy ra với mình. Sợ hãi làm cho chúng ta tự tôn ích kỷ và bị tê liệt. Vì lẽ đó, Chúa Giêsu đã nói với thánh Phaolô: ‘Đừng sợ hãi, hãy tiếp tục nói.’ Sợ hãi không phải là thái độ của người Kitô hữu, nhưng có thể nói, đó là thái độ của một con thú bị giam trong chuồng không có tự do, không có tự do để nhìn lên phía trước, để kiến tạo và làm điều thiện hảo… và luôn luôn nói không [để cho an toàn] (Bài giảng 15/5/2015).

Fr. Huynhquảng

Vết Thương Lòng

Posted by

Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày chúng ta tiến gần về với Chúa hơn. Càng tiến gần về với Chúa, con người chúng ta lại được thanh luyện cả thể xác lẫn tinh thần. Về phần xác, chúng ta được mời gọi chia sẻ và quan tâm đến những người bé mọn, vì Chúa Kitô hiện thân trong những con người bé mọn ấy. Khi quan tâm đến anh em mình, chúng ta cảm nghiệm sự liên đới với nhau trong mầu nhiệm Thân Thể Chúa Kitô. Khi chúng ta phục vụ anh em mình, chúng ta cũng phục vụ cho chính thân thể của chính chúng ta trong Thân Thể Chúa Kitô. Về mặt tinh thần, Thiên Chúa chữa lành chúng ta qua các bí tích, đặc biệt qua bí tích Thánh Thể và Hoà Giải. Vì dù muốn hay không, do Tội Nguyên Tổ, mỗi con người chúng ta điều vướng vào sự tội, sự đau khổ do chính bản thân mình hay do hoàn cảnh khách quan tác động, do môi trường mình lớn lên…tất cả những điều này đã để lại nhưng vết thương lòng.

Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi đến với Ngài để được chữa lành những vết thương mà mình đã gây ra hay bị vướng phải do hoàn cảnh mình lớn lên.

Trong tinh thần suy niệm về Thương Linh Hồn Bảy Mối, chúng ta cùng nhau chia sẽ câu chuyện sau đây trong tập sách Simple Path to Union with God của cộng đoàn Missionary of the Cross do Lm Fr. Jordi Rivero sáng lập. Dưới đây là lời tự thuật của một linh mục được chữa lành vết thương của đời mình. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

 

 

* * *

“Những gì còn sót lại trong tâm trí tuổi thơ của tôi chính là hình ảnh ba mẹ tôi ly dị, khóc than và đánh nhau. Trong tôi không có bất cứ hình ảnh nào về cuộc sống của họ với nhau, làm việc với nhau và yêu thương nhau. Vì lẽ đó, tôi đã lớn lên trong một căn nhà không có tình yêu. Tôi vẫn luôn luôn cô độc trong căn nhà ấy, tôi thường giữ im lặng, nếu chơi hay nói chuyện cũng chỉ một mình. Vì là trẻ con, tôi không biết phản ứng và hiểu rõ hoàn cảnh ấy như thế nào; nên tôi chấp nhận đau khổ sống không có tình yêu thương.

Mẹ tôi thường vẫn chứng tỏ tình yêu của bà cho tôi qua những cái ôm và hôn tôi, nhưng tôi vẩn thường từ chối. Tôi không hiểu tại sao trong tôi lại có phản ứng như thế; mãi cho đến hôm nay thì tôi khám phá ra được. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ tôi được ba tôi thương yêu vô điều kiện cả. Lớn lên với sự khô cứng trong mối quan hệ trong gia đình, kết quả là: Tôi cho rằng tôi không xứng đáng để được yêu – vì tôi không thấy một kinh nghiệm yêu thương vô điều kiện nào trong tuổi thơ của tôi. Chính vì thế, khi có ai yêu tôi, vết thương này lại xuất hiện: Tôi không xứng đáng được yêu; tôi không tin vào tôi có khả năng yêu thương; tôi không biết phương cách nhận và cho tình yêu; khi bắt đầu mối quan hệ với ai, tôi thường nghĩ, tôi cũng sẽ bị phản bội.

Ba tôi cũng đã vài lần hứa là khi ông trở về, ông sẽ mang những món quà này quà nọ cho tôi. Nhưng hoá ra không có gì. Ông chọn lối sống cho ông và chỉ tìm cách phục vụ cho ông thôi; ông không quan tâm đến mẹ con tôi. Hình ảnh mẹ tôi khóc thường xuyên trong phòng bà làm tôi khó quên được. Nhưng mãi đến hôm nay tôi mới nhận ra rằng. Ba tôi không thương mẹ và tôi cũng không phải vì lỗi của ba tôi – nhưng vì ba tôi cũng không nhận được tình thương từ ông nội – khi ba tôi phải ra khỏi nhà từ tuổi niên thiếu. Ba tôi lớn lên không có tình thương nên ông cũng không biết yêu và được yêu nghĩa là gì đối với mình. Ba tôi không biết làm thế nào để yêu tôi – đứa con của ông vì chính ông cũng chưa hề cảm nhận được tình yêu từ ông nội.

Trong khoảng thời gian dài đầu đời của tôi, tôi vẫn thường mặc cảm với các bạn nên tôi thường hay rút lui một mình trong các mối quan hệ. Tôi cảm thấy khó khăn khi làm bạn với họ. Nếu có tình bạn, thì cũng dựa vào công việc chứ không cảm nghiệm được tình yêu vô điều kiện dành cho nhau” (Tr. 43).

* * *

Lời chia sẻ chân tình của vị linh mục cho ta thấy một kinh nghiệm mà nhiều người trong chúng ta có thể liên đới: Vết thương lòng. Vị linh mục trên là nạn nhân. Đúng là như vậy. Nhưng ai đã gây ra cho ngài những vết thương ấy? Ba của ngài, ông nội ngài, ông cố ?… Nếu cứ tiếp tục truy tìm căn nguyên của vết thương lòng thì ta mới thấy rõ: Tội lỗi do ma quỉ gây ra là nguyên nhân của mọi thảm hoạ mà con người đang gánh chịu. Vì lẽ đó, lời an ủi và tha thứ của Chúa Giêsu cho tội nhân thật chí lý: “Này chị, ta không kết tội chi đâu” (Jn 8:11). Đó chính là sứ mạng của Đấng Thiên Sai, “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà kêu gọi người tội lỗi” (Mk 2:17).

Bảy Mối quan tâm chăm sóc phần hồn chính là sự quản diễn về mối quan tâm hàng đầu trong sứ mạng của Chúa Giêsu: Tìm mọi phương cách để cứu giúp một linh hồn. Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người. Thứ hai: Mở dậy kẻ mê muội. Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo. Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội. Thứ năm: Tha kẻ dể ta. Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta. Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Vị linh mục trên đây đã được chữa lành là nhờ vào lòng thương xót của Chúa và chính sự mở lòng của ngài với Chúa. Ngài đã trở nên đối tượng trực tiếp của Chúa Giêsu – Đấng mong muốn chữa lành cho vị linh mục. Thực ra, mỗi tội nhân chúng ta cũng là đối tượng mà Chúa Giêsu muốn chữa lành. Nếu chúng ta không là đối tượng của lòng thương xót của Thiên Chúa thì ai sẽ là đối tượng đây??? “Ta không đến để kêu gọi người công chính…” mà là chính chúng ta là tội nhân được Thiên Chúa kêu gọi để được chữa lành.

Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi đến với Ngài để được chữa lành những vết thương mà mình đã gây ra hay bị vướng phải do hoàn cảnh mình lớn lên. Những vết thương trong bản thân có nguồn gốc từ xã hội Việt Nam do chiến tranh, do thể chế chính trị, do nghèo đói… đã lây lan trong gia đình, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong giáo hội. Năm Thánh Thương Xót là thời gian đặc biệt cho ta được chữa lành với Chúa, với tha nhân và với chính mình. Lời mời gọi dành riêng cho mỗi chúng ta vẫn tha thiết vang lên: “Hãy đến với Ta, hỡi những ai lao đao và gánh nặng. Ta sẽ an ủi bổ sức cho” (Mt 11:28). Hãy đến và kể hết “bệnh tình” của mình với Chúa và phó mặc cho sự tài khéo khôn ngoan của “lương y” Giêsu. Hãy đến thôi, trong thinh lặng tĩnh nguyện để được chữa lành.

Fr. Huynhquảng

 

Thương xác bảy mối

Dù muốn hay không, mỗi chúng ta đều dần dần từ giả cuộc đời này. Tiếp theo cuộc đời này, có người tin về cuộc sống vĩnh cửu, có người không tin vào cuộc sống bên kia thế giới. Riêng đối với Giáo hội Công giáo, chúng tôi tin vào sự sống lại và sự sống đời sau. Một cách rõ nét, Tin Mừng Mathew chương 25, câu 31 – 46, cho ta thấy khung cảnh của Ngày Phán Xét – Ngày sẽ quyết định đến vận mệnh vĩnh cửu của mỗi người: Có được tiếp tục và chia sẻ trọn vẹn đời sống với Thiên Chúa hay mình sẽ bị tách ra khỏi đời sống của Thiên Chúa. Lạ thay, tiêu chuẩn mà Thẩm Phán Tối Cao đưa ra không phải là những tiêu chuẩn đời sống luân lý cá nhân mà chính là thước đo về khả năng quan tâm đến đồng loại. “Nếu các ngươi làm cho một người anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” Theo thánh Thomas Aquinas, lòng thương xót cần phải được thể hiện một cách cụ thể đặc biệt qua việc giúp đỡ những người đói ăn, khát uống, rách rưới, tù đày, bệnh tật, lữ khách, và nô lệ. Cũng trong tinh thần ấy, để sống Năm thánh Thương xót, Giáo hội mời gọi con cái mình thực hành Mưới bốn mối, trong đó bảy mối quan tâm đến phần xác, và bảy mối quan tâm đến tinh thần. Hôm nay, chúng ta cùng nhau học hỏi và thực hành Thương Xác Bảy Mối.

Thứ nhất: cho kẻ đói ăn
Thứ hai: cho kẻ khát uống
Thứ ba: cho kẻ rách rưới ăn mặc
Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc
Thứ năm: cho khách đ
ậu nhà
Thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi
Thứ bảy: chôn xác kẻ chết

Trong bảy mối thương xót nhằm quan tâm đến thân xác, sáu điều đầu được bắt nguồn từ Tin Mừng Mathew 25:31 – 46. Điều thứ bảy được chính thức thêm vào thể ký thứ III, mặc dầu các Kitô hữu đã thực hành việc chôn xác kẻ chết đã có từ thời xa xưa, cụ thể sách Tobia đã ghi lại việc làm tốt đẹp này. Như thế, việc thực thi Bảy mối thương xác thực sự là việc sống Tin Mừng – cụ thể sống đức ái theo lời mời của Chúa Giêsu. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Nếu khách du lịch có dịp ghé thăm downtown thành phố St. Petersburg, Florida, một thành phố đẹp, hiền hoà và thoáng mát. Diện tích của nó chỉ vỏn vẹn 43 acres (mẫu Anh), thế nhưng nơi đây có đến ít nhất năm tổ chức từ thiện nhằm cung cấp thức ăn và chỗ ngủ cho người vô gia cư (homeless). St. Vincent de Paul, Salvation Army, Heaven Works, Daystar, St. Petersburg Free Clinic. Tại năm tổ chức này, cứ mỗi ngày họ cung cấp ít nhất là một bữa ăn tối cho những người vô gia cư. Đơn cử tại trung tâm St. Vincent de Paul, mỗi tối họ cung cấp khoảng 200 phần ăn, nước uống và tráng miệng. 200 phần ăn này từ đâu mà có? Ai cho? Có phải chính phủ nhà nước lo cung cấp? Thực ra, 200 phần ăn này là do sự đóng góp tự nguyện của một cộng đoàn tôn giáo hoặc tổ chức thiện nguyện nào đó. Mỗi tổ chức thiện nguyện này tự kêu gọi các thành viên với nhau. Ví dụ trong một giáo xứ, cha xứ thành lập ban Bác Ái cho người nghèo. Nhóm này kêu gọi thêm thành viên và xin đóng góp. Sau đó, họ sẽ liên lạc với ban điều hành của trung tâm St. Vicent de Paul để đăng ký lấy ngày đến phục vụ thức ăn cho những người vô gia cư ấy. Thông thường, mỗi nhóm có thể đăng ký giúp các bữa ăn tối với con số như trên khoảng 6 – 7 lần trong một năm. Và cứ như thế, những ngày khác, sẽ có những nhóm tổ chức khác cũng sẽ tình nguyện cung cấp thức ăn cho những người vô gia cư. Trong những dịp tổ chức những buổi ăn tối cho người vô gia cư, có những tổ chức cũng tặng thêm đồ dùng cá nhân như áo lạnh, kem đánh răng, dầu gội đầu… những đóng  góp nhỏ bé này đôi khi là do các em học sinh trong các lớp giáo lý nhằm giúp các em quan tâm đến người nghèo và thực hành Thương Xác Bảy Mối.

* * *

Một người homeless khi được hỏi nếu anh có được 200 dollar thì anh sẽ làm gì? Anh không chần chừ trả lời ngay, tôi sẽ thuê một nhà trọ để tôi được ngủ trên giường vì đã 14 năm qua, tôi chưa được nằm trên giường lúc nào cả. Thế mới biết, dù là một nước văn minh và giàu có như nước Mỹ, thế nhưng người thiếu ăn và không nhà ở vẫn còn rất nhiều. Thành phố St. Petersburg chỉ là một thành phố rất nhỏ trong hàng ngàn thành phố khác trên khắp nước Mỹ, thế mà số người homeless đã cao như thế, thì thử hỏi con số người homeless sẽ đến mức nào trên khắp nước Mỹ?! Theo số thống kê vào tháng giêng 2014, số người homeless tại Mỹ lên đến 578,424 người. Thế còn con số người homeless tại Việt Nam thì sao?

* * *

Ca dao tục ngữ Việt Nam dạy rằng: “Một cây làm chẳng nên non, ba câu chụm lại nên hòn núi cao.” Rầt nhiều người trong chúng ta thương người nghèo, giúp người nghèo điều đó quả là quí; dầu vậy, nếu chúng ta học cách làm việc chung với nhau, thành quả sẽ lớn gấp bội và tính giáo dục cũng rất cao. Như các tổ chứ thiện nguyện tại thành phố St. Petersburg, chúng ta được mời gọi để cùng nhau chia sẻ lòng thương xót với anh em mình – dù không có tổ chức từ thiện nào hoàn hảo, nhưng họ cũng cố gắng hết sức để xoa dịu vết thương của anh em mình bao có thể. Cầu chúc chúng ta sống Năm Thánh Thương Xót không chỉ qua nghĩa cử, nhưng còn qua cách nhìn quảng đại và yêu thương nhau để cùng nhau xoa dịu vết thương của Thân Thể Đức Kitô.

Fr. Huynhquảng

Tên Người là Thương Xót

Vào ngày 12 tháng giêng năm 2016, Đức Giáo Hoàng Phanxicô gởi đến thế giới cuốn sách mới của Ngài vời tựa đề: Tên Người là Thương Xót. Sách được trình bày dưới hình thức một cuộc phỏng vấn giữa ký giả Andrea Tornielli với Đức Giáo Hoàng về chủ đề Lòng Thương Xót. Không thể nghi ngờ gì thêm, chúng ta có thể đặt cho ĐGH Phanxicô một tên mới: Giáo Hoàng của thương xót. Quả thật như vậy, ngay từ ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngày đầu tiên nhận vai trò kế vị thánh Phêrô cho đến hôm nay, có thể nói từ ngữ ngài dùng nhiều nhất chính là từ “thương xót.” Trước hết, khẩu hiệu ngài chọn là lòng thương xót, “Được chọn do lòng thương xót.” Sau đó không lâu, vào 17 tháng 3, trong bài giảng thứ hai với dân Chúa tại nhà thờ thánh Anna, Ngài đã hé lộ ra trọng tâm trong triều đại giáo hoàng cũng chính là lòng thương xót. “Thông điệp của Chúa Giêsu chính là lòng thương xót. Với sự khiêm tốn tôi có thể nói rằng lòng thương xót là thông điệp mạnh mẽ nhất của Thiên Chúa.”[1] Vì lẽ đó, cũng không có gì ngạc nhiên khi Ngài công bố năm thánh Lòng Thương Xót và mời gọi chúng ta sống và cảm nhận lòng thương xót Chúa dành cho mỗi cá nhân và toàn thể nhân loại chúng ta. Trong tinh thần ấy, trong mục Thương Xót và Nhân Hậu kỳ này, chúng ta cũng sẽ suy niệm sâu hơn về lòng thương xót của Chúa qua Bí tích Giải tội dưới cái nhìn của ĐGH Phanxixô.

Đứng trước mặt các bạn là môt con người đã được tha thứ nhiều vì những tội lỗi của người ấy

Vào ngày 21 tháng 9 năm 1953, khi cậu Jorge Mario Bergoglio mười bảy tuổi, với kinh nghiệm được đụng chạm lòng thương xót của Chúa trong bí tích giải tội qua bàn tay của linh mục Carlos Duarte Ibarra, cậu đã được biến đổi. Theo như lời tự thuật, biến cố ấy cũng là tiếng gọi để cậu dấn thân theo Chúa trong ơn gọi linh mục. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

“Vào ngày lễ kính thánh Mathêu tông đồ, khi tôi mười bảy tuổi, trong lúc xưng tội với ngài (linh mục Carlos Duarte Ibarra), tôi cảm nghiệm lòng thương xót đến với tôi… Một năm sau, Cha Carlos qua đời, tôi vẫn còn nhớ sau khi lễ an táng và chôn cất ngài, tôi trở về nhà; tôi như có cảm giác bị bỏ rơi. Tôi đã khóc và đã khóc thật nhiều một mình trong phòng. Tại sao? Bởi vì tôi đã mất đi một con người – người mà đã giúp tôi cảm nghiệm lòng thương xót của Chúa, và cũng là người đã giúp tôi hiểu được câu khẩu hiệu Được chọn do lòng thương xót – lúc ấy tôi không hiểu nhiều, nhưng về sau, tôi đã chọn nó làm khẩu hiệu cho sứ vụ Giáo hoàng của mình.”[2]

Đẹp biết bao với lời tự thú chân thành của Giáo Hoàng – Người được gọi là Đức Thánh Cha, thay mặt Chúa Giêsu chăn dắt đàn chiên của Ngài, một tội nhân như bao con người. Trong chuyến thăm trại tù tại Palmasola, Bolivia năm 2015, ngài đã thú nhận với các tù nhân rằng: “Đứng trước mặt các bạn là môt con người đã được tha thứ nhiều vì những tội lỗi của người ấy.”[3] Ngài đã thú nhận tiếp, “Điều đó đâu có gì là lạ đâu. Giáo hoàng cũng là người cần lòng thương xót của Chúa…. cứ mỗi lần tôi đi vào nhà tù cử hành thánh lễ, tôi luôn luôn tự hỏi: Tại sao là họ mà không phải là tôi? Tôi nên ở đây, tôi đáng ở đây lắm. Sự sai lầm của họ có lẽ cũng là của chính tôi.”[4] Vì lẽ đó khi cử hành bí tích Giải tội với hối nhân, Đức Giáo Hoàng vẫn thường tự nhủ lòng mình: “Tôi luôn nghĩ đến tội lỗi của tôi và tôi rất cần đến lòng thương xót của Chúa, vì lẽ đó, tôi cố gắng tha thứ [cho hối nhân] bao có thể.”[5]

Thiên Chúa không muốn chúng ta phạm tội, và không một người nào – dù là người gian ác cũng không muốn mình phạm tội. Tội lỗi luôn luôn là sự biểu hiện một điều gì đó không hoàn thiện, bị thiếu hụt, và không phải là chính mình. Quả vậy, trong Cựu Ước, từ nghĩa gốc của từ ngữ “tội” của tiếng Do Thái  là “ḥṭʾ” nghĩa là “trật đường, sai mục tiêu, lệch hướng.” Một cách bình dân cho dễ hiểu, thuở xưa, từ ngữ này bắt nguồn từ việc các vận động viên phóng lao. Nếu họ phóng lao trúng mục tiêu thì họ được nhận “vương niệm” vòng ô-liu, nhưng nếu họ phóng sai hoặc bị “trật” ra khỏi vòng mục tiêu, thì họ bị cho là “ḥṭʾ” –  họ đã nhắm sai mục tiêu – họ “phạm tội.” Như thế, cứ mỗi lần vận động viên phóng mũi tên trật mục tiêu, thì lý do dể hiểu có lẽ là anh ta đứng không vững, bị nghiêng xẹo. Một cách nôm na tương tự, mỗi khi ta phạm tội, điều đó luôn phản ảnh sự mất cân bằng, thiếu hụt và yếu đuối của chúng ta. Sự thực là không một ai muốn phạm tội. ĐGH tâm sự, “Từ kinh nghiệm chúng ta biết rằng, vì tội Nguyên tổ, loài người bị thương tích; chúng ta biết phân biệt điều tốt và xấu, chúng ta biết điều gì là xấu xa, và chúng ta cố gắng đi theo đường tốt, nhưng chúng ta vẫn sa ngã là bởi vì chúng ta yếu đuối và chọn điều xấu.”[6] Vì bị thương tích, nên chúng ta phạm tội. Nói một cách khác, tội là vết xưng bầm tím bên ngoài xuất phát từ vết thương ẩn dấu bên trong con người chúng ta. Vì lẽ đó, cũng như mỗi loại tội có một tên gọi khac nhau thì mỗi vết thương cũng có một tên gọi khác nhau. Khi chúng ta ghét ai, dù chúng ta không muốn, nhưng vì vết thương mang tên “ghét” đang ẩn sâu trong con người mình làm mình ghét người khác. Cũng thế, sự ghen tị là biểu hiện vết thương có tên “ghen tị” bên trong con người. Trộm cắp là sự biểu hiện vết thương mang tên “tham lam.” Nói tóm lại, bất cứ tội nào cũng là sự biểu hiện vết thương trong tâm hồn mình. Chính vì lẽ, bí tích Giải tội không chỉ tội lỗi được tha mà còn là cơ hội để được chữa lành những vết thương ẩn rất sâu-sâu-sâu bên trong. Càng chân thành kiên trì phơi bày tội lỗi (mặt nổi bên ngoài), thì càng có cơ hội để Thầy Giêsu đụng chạm được vết thương ẩn kín bên trong; chúng ta sẽ mau được chửa lành. Như thế đã rõ, tội không phải là điều trọng tâm trong bí tích Giải tội, nhưng là lòng thương xót và mong muốn ta được cứu chữa mới là chính yếu. Bí tích Giải tội trở nên thần dược giải cứu chúng ta do lòng thương xót hải hà của Chúa bởi vì, Đức Giáo Hoàng chia sẻ, “Tôi không là gì cả, tôi là kẻ khốn nạn. Chúa Cha lại quá yêu tôi, Người muốn cứu tôi, Người muốn đưa tôi ra khỏi sự khốn nạn ấy, nhưng tôi không đủ khả năng để làm việc đó cho chính tôi. Và vì thế, Người đã gởi Con của Người – Người Con mang lòng Thương Xót của Chúa Cha trở nên tình yêu dành cho tôi.[7]” Còn hành động nào đẹp hơn hành động yêu thương ấy!

Fr. Huynhquảng

[1] Pope Francis (2016-01-12). The Name of God Is Mercy (Kindle Locations 58-59). Random House Publishing Group. Kindle Edition.

[2] Pope Francis, 217.

[3] Pope Francis, 407.

[4] Pope Francis, 422.

[5] Pope Francis, 351.

[6] Pope Francis, 430.

[7] Pope Francis, 414.

Thở Dưới Nước

rescueCũng như tất cả thành viên của hội AA (Alcoholics Aanonymous), lời đầu tiên của John trong những cuộc họp mặt thường lệ chính là: Tôi là người nghiện rượu.

John bắt đầu uống rượu từ rất trẻ và ngày càng lún sâu vào việc nghiện ngập. Không cần phải nói, thể xác và tinh thần của John mỗi ngày mỗi tồi tệ; đời sống cá nhân cũng như gia đình của anh đều bị ảnh hưởng nặng nề. Dầu vậy, hậu quả lớn nhất mà John phải chịu đó chính là ám ảnh của sự sợ hãi. John không bao giờ hài lòng về chính mình và không bao giờ cảm thấy tự tin về những thành quả trong cuộc đời mình vì nổi mặc cảm quá lớn: Mình là một con nghiện. Điều này làm John luôn sống trong sự sợ hãi; John không thấy bình an và tự tin nếu John không được khen ngợi. John luôn sống trong thái độ chờ mong được động viên, khen ngợi, và được thừa nhận từ phía người khác. Dầu vậy, những lời động viên khen gợi ấy cũng không thể nào lấp đầy vào lỗ hỏng của sự sợ hãi trong tim của John. John muốn có một đôi giày như người bạn đang có, vì nghĩ rằng với đôi giày ấy, John sẽ tự tin và yêu đời như người bạn kia. Nhưng buồn thay, sau khi đã có đôi giày ấy, John vẫn mặc cảm là giày của mình không đẹp bằng giày của người bạn. John thấy người bạn mình mang chiếc áo đẹp, nhưng sau khi John đã sở hữu chiếc áo như của người bạn, John vẫn không vui vì cho rằng, chiếc áo của mình vẫn có điểm gì đó thua chiếc áo của người bạn, điều này cũng làm cho John bối rối. Cứ như thế, tất cả những gì John nghĩ chúng có thể giúp John tự tin và đáng yêu hơn, nhưng sau khi đã sở hữu chúng, John vẫn không cảm thấy tự tin và đáng yêu như mình mong đợi. Cuộc đời của John như một người bị ngộp thở dưới nước – chẳng bao giờ John có được hơi thở tự do và cho chính mình cả. John luôn sống trong sự sợ hãi: thất bại, bị phê bình, sai lầm, không được công nhận.

Chúng tôi thừa nhận chúng tôi bất lực trước sự nghiện ngập này – Chúng tôi không đủ khả năng để làm chủ đời mình nữa


Lổ hổng sợ hãi được lấp đầy khi John chấp nhận mình là thành viên của AA – Hiệp Hội Người Nghiện Ẩn Danh. Tham gia vào hội AA, John được học mười hai bước nhằm giúp đở người nghiện làm lại cuộc đời mới. Trong mười hai bước này, bước căn bản đầu tiên chính là thựa nhận rằng: “Tôi bị nghiện rượu.” → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Bưới thứ nhất trong mười hai bước giúp người cai nghiện rượu được diễn đạt như sau: “Chúng tôi thừa nhận chúng tôi bất lực trước sự nghiện ngập này – Chúng tôi không đủ khả năng để làm chủ đời mình nữa.”[1] Chấp nhận mình là ai, tình trạng hiện tại như thế nào là bước căn bản đối diện thẳng với sự thật của mình. Khi can đảm chấp nhận sự thật – dù có phủ phàng, chúng ta đang đi vào nguồn sáng có khả năng giải thoát ta khỏi sợ hãi, u ám, và tội lỗi. Đúng vậy, cuộc đời con người luôn bị bao phủ những mạng nhện đan kín và chòng chéo lẫn nhau giữa điều muốn làm và điều không muốn làm, giữa sự ác và sự thiện, giữa tư tưởng ích kỷ và vị tha, giữa yêu mến và ghen ghét. Kinh nghiệm của thánh Phaolô giúp chúng ta tỏ bày điều đó: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Đó chính là phận người thụ tạo: tốt đẹp đan xen với bất toàn, yêu mến đan xen với ích kỷ, thánh thiện đan xen với tội lỗi. Mỗi người sẽ vẫn mãi có đó những thao thức cho sự hoàn thiện, vươn lên, và thoát tục. Tuy nhiên, điều nghịch lý lớn nhất trong đời sống đức tin của người Kitô hữu chính nằm ở chỗ, “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cor 12:10). Thực tế cho ta thấy, những kinh nghiệm được thương xót và thắm thiết “gần” Chúa không phải là lúc đời ta bình an tràn đầy nụ cười – dầu cũng có những trường hợp như thế, nhưng đa số, chúng ta cảm thấu Chúa yêu ta thường khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm vấp ngã hay tội lỗi. Câu hỏi khó có thể tìm cho ra giải đáp chính là: Vậy đây có phải là cuộc chơi “trốn – tìm” trong đời sống tâm linh giữa ta với Thiên Chúa? Sao Chúa lại “thích trốn” khỏi mình đằng sau những hoành cảnh éo le ấy? Xin thưa, dường như sự thánh thiện của Thiên Chúa chỉ có thể dành cho những ai khiêm tốn và gối họ biết quì xuống vì nhận ra phận người bất lực. Dường như sự thánh thiện ấy cũng chỉ ban tặng cho ai biết thừa nhận, “Tôi không còn đủ khả năng để làm chủ đời tôi nữa.” Và bởi vì, không có Chúa tôi không thể làm được điều gì!

* * *

Theo tiêu chuẩn xã hội, việc thừa nhận bất lực và không đủ khả năng điều khiển đời mình là một sự thất bại và thua cuộc. Đời sống xã hội dùng thành quả của danh tiếng và tiền tài để xác định chiến thắng hay thất bại của một đời người. Nếu áp dụng theo nguyên tắc này vào đời sống tâm linh thì hậu quả cũng rất nguy hiểm: Bình an thì thành công, bấn loạn là thất bại; hạnh phúc là thành công, lo lắng là thất bại; sạch tội là thành công, phạm tội là thất bại, làm chủ chính mình là thành công, mất tự chủ là thất bại. Nếu áp dụng những nguyên tắc này vào đời sống tâm linh, thì hoá ra, chúng ta chỉ mãi đi tìm những thành quả – của – chính – mình, vẫn lấy mình làm trung tâm mà không là Thiên Chúa. Như thế, có khác đâu những Pharisêu mà Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án?! Có khác gì đâu so với tội kêu ngạo của tổ tiên loài người?! Vì mãi chạy theo những tiêu chuẩn này, nên chúng ta cố “làm chủ” lấy mình cho bằng mọi giá kể cả khi trái tim ta trở nên băng giá vô cảm trước những yếu đuối lỗi lầm của anh em ta. Vô tình ta cũng đóng băng trước tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Hậu quả chính là đời sống đạo của ta bị bao phủ bởi hết mớ luật này đến mờ luật khác mà bỏ xót điều trọng tâm của đời sống Kitô hữu: Yêu Chúa và yêu người. Đó cũng chẳng khác nào sự biểu hiện một mức độ kêu ngạo sâu và thâm hơn mà thôi.

Năm thánh Thương Xót mời gọi ta thừa nhận như Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con là người tội lỗi.” Như người thu thuế đứng đằng xa không dám ngước mắt lên chỉ đấp ngực van xin tha thứ, như người mù bên vệ đường: “Lạy Chúa, xin thương xót con.” Ước chi chúng nhận lãnh ơn Thương Xót Chúa thật dạt dào trong đời ta, nhất là luôn biết thừa nhận sự bất lực của chúng ta khi đương đầu với tội lỗi và sự dữ. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Fr. Huynhquảng

[1] Richard (2011-09-17). Breathing Under Water: Spirituality and the Twelve Steps (p. 1). St. Anthony Messenger Press. Kindle Edition.

Thomas Merton

Thomas MertonTrong tông huấn Dung Mạo của Lòng Thương Xót (Misericordia Vultus), Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh đến sự thật rằng: Ơn cứu độ của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào lòng thương xót của Đấng giàu lòng thương xót. Ngài diễn đạt: “Lòng Thương Xót: là từ ngữ mạc khải các mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi. Lòng Thương Xót: là hành động cuối cùng và tối thượng qua đó Thiên Chúa đến gặp chúng ta. Lòng Thương Xót: là luật cơ bản ngự trị trong con tim của mỗi con người đang nhìn chân thành vào đôi mắt của anh chị em mình trên đường đời. Lòng Thương Xót: là cầu nối liên kết giữa Thiên Chúa và con người, trong khi mở lòng chúng ta ra cho một niềm hy vọng được yêu thương mãi mãi bất chấp tội lỗi ngập tràn của chúng ta (MV #2). Trong thời đại của chúng ta, khó có ai diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa đẹp hơn Thomas Merton – một tu sĩ chiêm niệm tại tu viện Gethsemani, Kentucky. Ông tự thú rằng: “Những điều nghịch lý nhất trong cuộc đời của tôi chính là những dấu chỉ lòng thương xót của Chúa.”

Dầu sao, chúng ta có thể mệt mỏi đi kiếm tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi đi kiếm tìm chúng ta.

Trong tự truyện The Seven Storey Mountain (Ngọn núi bảy tầng)được xem như là cuốn Tự Thú của thánh Augustinô trong thời hiện đại, Thomas Merton đã khiêm tốn chia sẻ một cuộc lữ hành kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa đời mình không mệt mỏi. Con đường ông đi qua cũng chính là con đường mà tất cả chúng ta cũng đang đi: cô đơn, sợ hãi, nghi ngờ, tham danh, háo sắc, ích kỷ, tội lỗi… nhưng lẫn lộn trong những thăng trầm ấy, lòng thương xót của Chúa không bao giờ cạn và luôn luôn đụng chạm đến từng vết thương ấy – để ta được chữa lành. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Thomas Merton (1915 – 1968) sinh tại Pháp, được rửa tội theo Anh Giáo, và định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi mẹ của Thomas mất lúc cậu mới sáu tuổi, cậu trở lại Pháp với người cha và theo học nhiều trường học tại Châu Âu. Trong thời gian học tại đại học Clare, Cambridge. Thomas đã sống một cuộc đời tự do phóng khoáng trong nhiều lãnh vực nhằm thoả mãn thú vui và cái tôi của mình. Chính trong thời gian này, Thomas cũng đã có một người con ngoài hôn thú. Năm 1934, Thomas trở lại Mỹ và ghi danh tại đại học Columbia, New York. Niềm khắc khoải và đi tìm ý nghĩa cho đời mình vẫn nung nấu tâm can của Thomas. Sự nhộn nhịp của thành phố New York cũng không đủ đáp ứng những tiếng gọi ẩn sâu trong trái tim của Thomas; hay nói đúng hơn, lối sống vui thú phù vân của con người, kiến thức triết lý mà Thomas lãnh hội đã không làm cho Thomas thoã mãn được; vì lẽ đó, đã có lần Thomas có ý định kết liễu đời mình trong thất vọng vô nghĩa.

Dầu sao, chúng ta có thể mệt mỏi đi kiếm tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi đi kiếm tìm chúng ta. Điều này thật đúng với Thomas Merton. Không có cách nào khác để cho tâm hồn ta được thoả mãn hơn là sự nhìn nhận một xác tín: “Chúng ta được sinh ra với niềm khao khát được biết và thấy Ngài.”[1] Không đón nhận hay làm ngơ những khao khát cháy bỏng trong con tim mình, hay đi tìm một sự khoả lấp chóng qua khác nhằm làm nguôi đi niềm khao khát ấy, chúng ta đánh mất cơ hội “biết và thấy” Ngài. Chấp nhận mình là thụ tạo và kiên trung chân thành đợi chờ, không sớm thì muộn, lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa sẽ tuôn đổ ngập tràn trong trái tim của chúng ta một cách bất ngờ.

Vào một ngày của tháng 8 năm 1938, sau nhiều lần lưỡng lự và đắn đo, Thomas đã quyết định đến nhà thờ Corpus Christi gần đại học Columbia để dự thánh lễ đầu tiên trong đời. Thomas tường tự thuật lại: Vào ngày Chúa nhật đẹp trời, Thomas như nhận được một lời mời nhẹ nhàng nhưng như được thúc dục “Go to Mass! Go to Mass!” (Hãy dự Thánh Lễ! Hãy dự Thánh Lễ!). Nhận ra tiếng thôi thúc nhẹ nhàng này, Thomas đã gọi điện cho người bạn gái và từ chối không đi chơi với nàng. Sau Thánh Lễ, Thomas cảm nghiệm được ân sủng đã nâng đỡ để giúp anh thấy hướng đi đời mình có ý nghĩa mục đích.[2]

Vào ngày 16 tháng 11 năm 1938, Thomas Merton đã để yên cho Thiên Chúa ôm hôn mình qua bí tích Rửa Tội. Một năm sau, lòng khao khát sự dấn thân theo Chúa qua tiếng gọi trở nên linh mục trổi dậy trong trái tim Thomas. Dầu vậy, tiếng gọi ấy vẫn cần phải được minh định và kiểm chứng qua thời gian cùng với sự bàn hỏi với những người kinh nghiệm. Gần ba năm (1939 – 1942), Thomas đã tìm hiểu ơn gọi của mình nhiều nơi, kể cả dòng Phanxicô. Bị khước từ vì lỗi lầm trong quá khứ, Thomas nhận ra là mình không có ơn gọi thuộc dòng Phanxicô và có lẻ ước mơ trở nên linh mục là một ảo tưởng, vì thế Thomas trở lại dạy học tại Đại học St. Bonaventura. Vào tháng 10 năm 1941, Thomas đã tìm đến tu viện Gethsemani để tĩnh tâm. Chính nơi đây, Thomas đã nhận ra lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa: “Chính trong bàn tay của Đấng yêu tôi hơn cả chính tôi yêu tôi, trái tim tôi được no thoả sự an bình.”[3] Chính nơi đây, Thomas đã không còn so đo chọn lựa đi hay ở, được hay mất, làm việc này hay việc khác, mà tất cả và cuối cùng chỉ còn: “Một mình Chúa thôi.”

Cuộc đời của Thomas Merton đã gợi lên đậm nét dung mạo của Lòng Thương Xót Thiên Chúa. Đó chính “là hành động cuối cùng và tối thượng qua đó Thiên Chúa đến gặp chúng ta” (MV #2). Cái nghịch lý đau khổ của con người chính là không chấp nhận để Thiên Chúa nhìn chúng ta vì chúng ta là con Thiên Chúa, mà chỉ thấy toàn là tội lỗi và sự kết án. Năm Thánh Lòng Thương Xót mời gọi ta suy niệm câu nói của Thomas Merton. “Đối với thánh nhân, khi nhớ đến tội mình, họ không nhớ đến tội, nhưng là nhớ đến lòng thương xót của Chúa; vì thế, những xấu xa của quá khứ biến thành niềm vui để phụng sự vinh quang Thiên Chúa trong hiện tại.”[4] Có lẻ, đó cũng chính là lời mời Chúa dành cho chúng ta trong năm thánh Thương Xót.

Fr. Huynhquảng

[1] Thomas Merton, The Seven Storey Mountain (New York: A Harvest Book Harcourt, Inc, 1999), 191.

[2] Thomas Merton, 226.

[3] Thomas Merton, 343.

[4] Thomas Merton, 323.

Dung Mạo của Lòng Thương Xót

TXNH 4Trong Dung Mạo của Lòng Thương Xót (Misericordia Vultus) – tông sắc công bố Năm Thánh ngoại thường (8-12-2015 đến 20-11-2016), Đức Thánh Cha Phan-xi-cô mời gọi chúng ta mở lòng để nhận ra dung mạo của Thiên Chúa. Xét về ngôn ngữ, từ “misericordia” được kết hợp từ “miseri” nghĩa là “người nghèo, người đau khổ;” và từ “cord” nghĩa là “trái tim.” Như thế, dung mạo của Thiên Chúa được biểu lộ qua trái tim của Người – Trái Tim dành cho người nghèo khổ và tội nhân. Và quả thật là như thế, có ai trong thế giới mà không là tội nhân và gặp đau khổ. Vì thế, mỗi một cá nhân đều trở nên đối tượng trực tiếp cho lòng thương xót của Thiên Chúa – Đấng “giàu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86:15).

Sự thương xót ấy cần khởi sự từ niềm hy vọng và cậy trong vì biết rằng một Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chính con người ta – Ngài luôn luôn hy vọng vào ta.


* * *

Đứa con trai độc nhất của bà Thomas Ann Hines, sinh viên năm thứ nhất đại học, với một tương lai nhiều hứa hẹn, bổng dưng bị bắn chết bởi một sinh viên mười bảy tuổi sau khi đã cho cậu này lên xe đi chung với con bà một đoạn đường. Không một ai và chẳng điều gì có thể lột tả hết nổi căm hận và đau đớn trong trái tim của bà Ann. Trái tim của bà đã hoàn toàn mất niềm tin và cuộc đời – một cuộc đời không có hy vọng, không có tương lai, không có lý tưởng, mà chỉ thay vào đó là những ý tưởng của căm hận thủ phạm, căm hận cuộc đời, và căm hận chính mình. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Sau mười ba năm rên xiết với vết thương của cuộc đời, bà quyết định vào trại tù của thủ phạm để hỏi lý do tại sao thủ phạm lại giết con của bà. Đối diện với thủ phạm – một tù nhân gục mặt trên bàn và với những tiếng nấc ngẹn ngào – bà Ann đã đụng chạm được lòng thương xót và nhân hậu – không phải cho ai khác, nhưng là cho chính bà để bà được giải thoát. Được các ký giả hỏi lý do tại sao bà có thể trò chuyện và tỏ lòng tha thứ cho thủ phạm, bà Ann không ngần ngại đám: “Nếu người ngồi đó là con trai của tôi thì sao? Nó cũng rất cần một bàn tay của ai đó nâng đở và đứng dậy.”[1]

Câu chuyện trên không chỉ làm cho ta cảm động nhưng cũng đánh thức lòng thương xót và nhân hậu ngay trong con người của mình dù mình có bị lảng quên. Hơn ai hết, chính ta cần biết thương xót và cảm thông với chính mình – một thân phận con người bị giằng xé đấu tranh quyết liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thiện và sự ác, giữa điều mình muốn và không muốn, giữa tinh thần và thể xác. Hai thế lực này luôn xung khắc trong chính bản thân của ta và làm cho ta bị thúc dục làm điều mình dù không muốn, nhưng mà lại cứ làm (cf. Rm 7:19). Có ai muốn nói xấu đâu, thế mà ta vẫn nói xấu; có ai muốn ích kỷ đâu, thế mà ta vẫn ích kỷ; có ai muốn trộm cắp đâu, thế mà vẫn trộm cắm. Ai ai cũng muốn làm điều tốt, nói điều tốt, thế mà mỗi ngày ta vẫn làm điều xấu, nói điều xấu. Ai cũng muốn yêu thương, nhưng cư xử lại là sự thù hận; ai cũng muốn sống trong sạch, thế mà vẫn phạm lỗi khiết tịnh; ai cũng muốn kính trọng chăm sóc cha mẹ, thế mà mở miệng vẫn là sự chua chát kể lễ, so đo. Đó chính là con người tội nghiệp của ta! Ta đáng thương lắm và cần được thương xót lắm. Sự thương xót ấy cần phải được khởi sự từ chính bản thân của ta – một con người nhận ra sự hoàn toàn bất lực khi đương đầu với bóng tối và tội lỗi. Sự thương xót ấy cần khởi sự từ chính Thiên Chúa là Đấng luôn luôn giàu lòng thương xót và yêu thương ta (cf. Eph 2:4). Sự thương xót ấy cần khởi sự từ niềm hy vọng và cậy trong vì biết rằng một Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chính con người ta – Ngài luôn luôn hy vọng vào ta. Thương Xót và Nhân Hậu trở thành chiếc cầu nối dẫn từng bước chân ta gần lại với Thiên Chúa, với con người và với chính mình. Ai đã đặt nền móng cho chiếc cầu ấy? – Thưa đó là Đức Kitô đã hạ mình khiêm tốn biểu lộ Dung Mạo Thương Xót trên chiếc cầu Thánh Giá, “Hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lk 23:43). Đó chính là Dung Mạo thật của Thiên Chúa – bất chấp tất cả những gì ta đã xúc phạm đến ngài, miễn là biết nhận ra sự bất lực để van xin: “Xin nhớ đến con khi về nước của Người” (Lk 23:42).

* * *

Theo TGM Fulton Sheen, khi diện kiến Thiên Chúa, có ba điều làm chúng ta hết sức ngạc nhiên: (1) Có những người chúng ta tưởng là họ sẽ ở trên Thiên Đàng, nhưng chúng ta không thấy họ ở đó. (2) Có những người chúng ta không bao giờ nghĩ là họ có thể được vào Thiên Đàng, nhưng họ lại có đó. Và cuối cùng, (3), chúng ta cũng sẽ ngạc nhiên vì chính chúng ta cũng ở trên Thiên Đàng vì nhờ vào lòng Thương Xót hãi hà của Chúa.

Thưa bạn, nếu bà Ann không can đảm đối diện với người thủ phạm gây ra cái chết cho con bà, ta cũng không thể biết được liệu những gánh nặng của hận thù và thất vọng sẽ kéo lê cuộc đời của bà thêm bao nhiêu năm nữa?! Chắc chắn một điều bà Ann không thể cản nghiệm thế nào là lòng thương xót và nhân hậu nếu bà tiếp tục sống trong oán hận thù hằn. Lý luận của bà Ann với chính mình – “Liệu người ngồi sau song sắt là con bà…,” nhắn nhủ ta một lý luận sâu thẳm hơn đến từ Thiên Chúa – “Liệu có người mẹ nào lại có thể quên đứa con của mình?… Dù người mẹ ấy có quên nó đi chăng nữa, phần Ta, Ta sẽ không bao giờ quên người” (cf. Is 49.15). Lời Chúa cũng cố lòng tin và tín thác của ta vào lòng thương xót của Thiên Chúa; chắc một điều Thiên Chúa sẽ không thể làm ngơ khi ta gục đầu van xin lòng thương xót của Ngài.

Fr.Huynhquảng

[1] Joan Chittister, God’s Tender Mercy (Twenty Third Publication, 2010) 8-10.