Phục Sinh có thật không?

The tomb, JerusalemBạn thân mến, chúng ta vừa suy niệm năm đề tài về các nhân đức tự nhiên. Để tiếp tục với chủ đề nhân đức, thân mời bạn cùng nhau học hỏi về nhân đức đối thần gồm: Tin, cậy, và mến. Đối tượng của ba nhân đức này là Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa. Nói cách khác, Chính nhờ Thiên Chúa mà con người có đức tin, đức cậy, và lòng yêu mến. Vì chỉ khi sống hướng về Thiên Chúa, đời sống ta mới có ý nghĩa. Chúng ta tin vào Thiên Chúa, chúng ta cậy trông và Người, và chúng ta yêu mến Chúa bằng trái tim của mình.

Niềm tin không cần nhiều lý luận, nhưng chỉ đơn thuần là tin


Đức tin là một phạm trù tôn giáo, đặc biệt trong Kitô giáo. Đức tin luôn luôn nói lên mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người. Khi không có mối quan hệ này, đức tin sẽ không còn là đức tin nữa, nhưng nó bị bao phủ bởi một mớ luật lệ ẩn chứa dưới danh nghĩa “sống đức tin.” Khi không nhận diện ra mối quan hệ thật giữa Thiên Chúa và con người, đời sống đức tin của chúng ta sẽ trở nên khô cằn, mệt mõi, và nặng nề; lúc ấy, nền tảng của đời sống đạo là lề luật chứ không phải là tình yêu chan chứa. Nhưng khi con người cảm nghiệm mối tương quan mật thiết này, con người biểu lộ đức tin một cách đơn sơ nhưng mạnh mẽ mà nhiều khi theo lý luận của con người thì khó chấp nhận được. → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Năm 1997, cùng các bạn học môn Kinh Tế Chính Trị tại giảng đường trường Đại học Huflit (Cơ sở 2, Đồng Nai – Tô Hiến Thành), thầy giáo với giọng nói thách đố đã hỏi chúng tôi về câu hỏi: “Tôn giáo, đức tin là sự bịa đặt. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu có thật không? Có em nào chứng minh được điều trên cho thầy và các bạn tin?” Cả hội trường im lặng một cách nặng nề. Ngồi sát bên cận tôi là anh Phong, và anh Toàn. Thấy tôi có ý định muốn trả lời câu hỏi này, anh Toàn kéo tay tôi nói nhỏ, “V, nếu cậu muốn qua phà thì ngồi yên.” Nhưng trong tôi vẫn bị thôi thúc muốn nói điều gì, nên tôi đứng lên. “Thưa Thầy, em có ý kiến.” Cầm micro trong tay tôi chia sẻ.

Hình ảnh đến với tôi là anh Phong, (Xin lỗi Phong nhé), người hay đi học trễ. “Thưa thầy, em không biết phải chứng minh như thế nào để cho Thầy tin về sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu. Nhưng qua ví dụ này, em sẽ chứng minh cho Thầy thấy sự kiện Phục Sinh là có thật. Vì tin, không có nghĩa là thấy mới tin, nhưng tin vì cho dù mình không thấy. Đức tin là nằm ở chỗ đó. Vì thấy rồi, không cần tin nữa.

Ví dụ chúng ta đang ngồi đây. Một bạn (trong đầu tôi nghĩ tới Phong) hôm nay đi học trễ vào lớp và nói với em rằng. “Việt, ngoài đường có tai nạn.” Em có tin lời nói của bạn ấy không? Thưa, câu trả lời là còn tuỳ thuộc vào người đưa tin. Nếu bạn ấy là người chuyên nói sạo, là người không đáng tin, thì chắc em sẽ chưa tin ngay. Nhưng nếu bạn ấy là người không bao giờ nói láo, luôn luôn có uy tín, thì em sẽ tin vào sự kiện mà bạn ấy truyền đạt.

Niềm tin vào sự kiện Phuc Sinh cũng tương tự như thế. Em không thấy Đức Kitô Phục Sinh bao giờ, cha mẹ em cũng không thấy, ông bà và rất nhiều nhiều người từ 2000 năm nay cũng không chứng kiến trực tiếp Chúa Giêsu Phục Sinh, tuy nhiên hàng triệu người vẫn tin vào sự kiện Phục Sinh vì đơn giản là họ tin vì nhờ vào những chứng nhân trực tiếp. Họ là những chứng nhân đáng tin! Tại sao biết những chứng nhân này rao truyền sự thật và những gì họ ra truyền là đáng tin? Thưa. Họ không chỉ nói sự thật mà còn lấy mạng sống mình ra để dám chết cho sự thật ấy nữa. Các Tông Đồ là chứng nhân trực tiếp về biến cố Phục Sinh và tất cả họ đều lấy mạng sống để chứng mình về biến cố này. Vì nó quá thật đến nỗi họ không thể nói khác đi được dù khi họ phải hy sinh mạng sống của mình. Và không chỉ Nhóm Mười Hai người này, mà còn nhiều người khác sau họ nữa. Khi có nhiều người dám lấy mạng sống ra để làm chứng cho một điều tương tự nhau, thì chắc chắn, điều họ làm chứng phải có thật. Càng lạ lùng hơn là mãi đến hôm nay, dù có nhiều người cũng không thấy trực tiếp sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu, nhưng họ vẫn can đảm làm chứng cho điều đó, kể cả cái chết. Chỉ như thế thôi, cũng đủ chứng minh là biến cố Phục Sinh là có thật. Đức tin không cần phải thấy mới tin; vì khi thấy rồi, sờ được rồi, thì không cần tin nữa!

Thầy giáo dạy Kinh Tế Chính Trị im lặng. Hình như tôi nhớ, hội trường vỗ tay. Còn tôi, dù có hơi phập phòng chờ cuối học kỳ xem sao, nhưng trong lòng mừng thầm vì có cơ hội làm chứng về biến cố Phục Sinh.

* **

Các bạn tin vào câu chuyện trên không? Tin hay không, tuỳ các bạn. Nhưng những câu chuyện tương tự như trên, và cụ thể hơn là những gương sống làm chứng đức tin vẫn diễn ra trong đời sống hằng ngày. Tại sao người ta đi lễ Chúa Nhật? Tại sao các bạn trẻ sống đời sống trong sạch trước hôn nhân? Tại sao người Kitô hữu không muốn ly dị? phá thai? Làm việc từ thiện âm thầm? Cầu nguyện trong đêm tối? Đó chẳng phải vì sống đức tin đó sao?! Đó là niềm tin có thật của người Kitô hữu. Niềm tin không cần nhiều lý luận, nhưng chỉ đơn thuần là tin. Vì thế, đức tin xuất phát từ cảm nghiệm của con tim hơn là lý luận của lý trí.

Chúng ta cầu chúc nhau sống niềm tin Phục Sinh qua sự cảm nhận mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa; chỉ với mối tương quan này, niềm tin của chúng ta mới thật và đậm đà.

Fr.Huynhquảng

Tiết độ

 

FlowerThầy Macarius (300 -391) nổi tiếng là vị ẩn tu thánh thiện trong sa mạc tại Ai-Cập; thầy thường được nhiều người tìm hỏi con đường nên thánh và cho lời khuyên dạy cho nhiều người đương thời. Một ngày kia, một thanh niên tìm hỏi thầy Macarius cách sống nào có thể giúp anh trở nên thánh thiện. Thầy Macarius bảo chàng thanh niên: “Con hãy ra nghĩa trang, hãy lấy đá ném vào những người đã chết, sau đó hãy thoã mạ và nguyền rũa họ thật lớn tiếng.”

Nhân đức tiết độ không nhằm mục đích dập tắt những ước muốn và khao khát trong con người mình, nhưng nhân đức này giúp ta điều hợp những ước muốn nội lực ấy một cách có hiệu quả – nhằm giúp ta lớn hơn, trưởng thành hơn, và hoàn thiện hơn.

Chàng thanh niên đến nghĩa trang và làm theo lời thầy Macarius; chiều tối chàng quay lại gặp thầy để chờ ý kiến. “Có chuyện gì không?” Thầy Macarius hỏi. “Dạ không, không ai trả lời và trả đủa cả.” Chàng thanh niên đáp. “Ngày mai hãy trở lại nơi ấy” thầy Macarius khuyên tiếp, “nhưng con hãy ca ngợi họ bằng những ngôn từ đẹp nhất, tán dương công trạng của họ và tôn phong họ như những vị thánh, những vị anh hùng.” Chàng thanh niên theo lời khuyên của Thầy. Hôm sau, chàng ra nghĩa trang và làm theo lời thầy dặn. Cuối ngày chàng trở về gặp thầy. Cũng như hôm qua, chàng thanh niên đáp: “Vẫn y như hôm qua. Họ không nói lời nào, chỉ im lặng.” Thầy Macarius tiếp, “Đó mới là thánh nhân. Con hãy đi và thực hành điều này: Dù người ta khen hay chê, điều đó cũng không thêm bớt điều gì cho con – con vẫn là chính con.”[1]

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Bạn thân mến, thân mời bạn cùng tác giả học hỏi nhân đức tiết độ của mục Sống Sao Cho Đẹp trong kỳ này. Cũng như mọi nhân đức khác, tiết độ nhằm mục đích giúp con người chúng ta hoàn thiện hơn, và tự do hơn. Tiết độ giúp ta làm chủ con người của mình, nhất là giúp chúng ta lấy lại sự cân bằng khi sử dụng của cải vật chất cũng như khi đối diện với những cảm xúc tình cảm thái quá trong mỗi chúng ta. Không tập nhân đức tiết độ, ta dễ trở nên nô lệ cho của cải vật chất và những cảm xúc dục vọng thái quá. Như thế đã rõ, tiết độ giúp ta được tư do và trưởng thành hơn trong tiến trình làm người. Tuy nhiên, tiết độ không phải là bài tập thực hành một lần là xong, nhưng là bài học liên lĩ trong đời người.

Khi bàn đến tiết độ, chúng ta không thể không nói đến những khát vọng và ước muốn của con người. Tự trong sâu thẳm, mỗi chúng ta luôn tiềm ẩn những ước muốn rất sâu, rất thực, và mạnh mẽ. Những ước muốn này tựa như những bản năng thôi thúc chúng ta tìm – kiếm – và giữ lấy cho mình. Chúng ta muốn được ăn no, muốn mặc đẹp; chúng ta muốn được an toàn, được sức khoẻ; chúng ta muốn được tôn trọng và yêu thương. Tuyệt vời thay, những ước muốn đã có sẵn trong con người mà không cần phải rèn luyện hay thực tập. Như thế những ước muốn sẵn có này như là những quà tặng – chúng đáng phải cho chúng ta hãnh diện về chúng – về khả năng tiềm tàng ẩn chứa trong mỗi con người. Chúng trở nên những khát vọng vô cùng để giúp ta vươn tới, để tiến lên, để hoàn thiện. Thật tốt và may mắn cho chúng ta với những ước muốn và khát vọng này. Khi không còn ước muốn và khao khát, con người mất nội lực để vươn lên, để hoàn thiện. Hiểu như thế, để dù bất cứ ước muốn và khát vọng nào – tự trong sâu thẳm, chúng như là ngọn lửa than ngầm sẵn sàng bùng cháy. Vì lẽ đó, những ước muốn và khát vọng có sẵn trong con người của chúng ta cần được điều chỉnh và điều hoà như dòng điện được biến thế cho việc thắp sáng.

Nhân đức tiết độ không nhằm mục đích dập tắt những ước muốn và khao khát trong con người mình, nhưng nhân đức này giúp ta điều hợp những ước muốn nội lực ấy một cách có hiệu quả – nhằm giúp ta lớn hơn, trưởng thành hơn, và hoàn thiện hơn. Nói cách khác, tiết độ không có nghĩa là từ bỏ, là cắt đứt, nhưng là nhận ra khả năng làm chủ của mình trước những ước muốn hay cảm xúc có thể ập đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Mọi hành động của con người điều được hình thành từ lối suy nghĩ. Chúng có thể đã ẩn chứa trong tiềm thức, vô thức, và nổi lên trong ý thức; sau đó sẽ dẫn đến hành động. Như thế, để có thể tập nhân đức tiết độ, trước hết và trên hết, chúng ta cần tập cho chúng ta có khả năng làm chủ dòng suy nghĩ của mình. Chúng ta được mời gọi gội rửa từng ngày lối suy nghĩ bất chính, nhỏ hẹp, dục vọng ích kỷ, hay tham lam. Chúng là hậu quả của những lần chúng ta bị ô nhiễm bởi môi trường sống mà chúng ta – một cách vô tình hay chủ ý, đã để cho mình bị vẫn đục. Cần gội rửa từng ngày với dòng nước trong sạch mới có thể điều chỉnh lại lối suy ghĩ của mình.

Cũng như câu chuyện của thầy Macarius và chàng thanh niên trên, thầy chỉ con đường thánh thiện mà chàng thanh niên nên theo – không phải con đường từ bỏ điều gì lớn lao bên ngoài, nhưng chính là tập làm chủ lấy suy nghĩ của mình – Sự thánh thiện không lệ thuộc vào lời phê bình hoặc ca tụng của người khác, nhưng tuỳ thuộc vào khả năng điều chính những khát vọng của mình và hướng chúng đến sự viên mãn. Dù được khen ngợi hay bị phê bình, xét cho cùng, chúng cũng không thể thay đổi vận mạng con người mình nếu mình đừng để chúng khống chế đời mình.

* * *

Chuyện một cậu bé trai và bé gái chơi chung với nhau. Cậu bé có nhiều viên bi sáng trong, trong khi cô gái có những viên kẹo ngọt thơm. Cậu bé đề nghị với cô gái là hãy đổi cho cậu kẹo ngọt, phần cô gái nhận lại những viên bi sáng trong. Cô bé đồng ý và đưa kẹo cho cậu bé. Phần cậu bé, cậu thò tay vào túi và đưa cô bé những viên bi cho cô bé, trừ viên lớn nhất và đẹp nhất. Tối hôm ấy, cô gái ngũ thật ngon và vui thích với những viên bi mình đang sở hữu. Còn cậu bé không thể ngũ được vì cậu cứ băn khoăn rằng liệu cô bé có giữ viên kẹo to và ngọt nhất như cậu đã giữ lại viên bi to và đẹp nhất không?[2]

Câu chuyện thật giản dị nhưng thâm thuý. Từ đâu mà hai đứa bé có hai lối suy nghĩ khác biệt nhau như thế? Khi để dòng suy nghĩ dục vọng ích kỹ chiếm hữu chúng ta, chúng ta mất quân bình. Hành động chọn giữ lại viên bi lớn nhất là hậu quả của sự thiếu khả năng tiết độ trong suy nghĩ. Còn hành động vô tư cho hết kẹo của bé gái là hoa quả của lối suy nghĩ tiết độ – không ích kỷ lo cho mình.

Lời mời gọi cho tôi và bạn là cùng giúp nhau tạo lối suy nghĩ tiết độ – không ích kỷ lo cho mình, để mình được tự do hơn và bình tâm hơn mà ca tụng Chúa.

“Xin cho điều con mặc niệm trong tâm

và lời con thốt ra từ môi miệng,

luôn đẹp ý Ngài,

lạy Thiên Chúa là đá tảng và là Đấng Cứu Độ con” (Ps. 19:14).

Fr. Huynhquảng

[1] Belden Lane, Desert Catechesis: The Landscape and Theology Early of Christian Monasticism, p.169 (Anglican Theological Review,1993).

[2] http://academictips.org/blogs/give-your-best-to-relationships/(accessed, July 26, 2012)

 

Hang Động Sợ Hãi

Hang dongTại một khu làng nọ, nhiều người dân sống trong sự sợ hãi vì phía cuối làng có một hang động mang tên “Hang động sợ hãi.” Sở dĩ có tên gọi này là vì hể ai đi vào hang động thì nghe một tiếng thật ghê sợ và không thấy người ấy trở ra nữa. Mọi người trong ngôi làng tin rằng trong hang động đó có một con yêu quái kinh sợ; những tiếng kêu ghê sợ ấy như nhắc nhở người dân trong làng phải cúng nộp thức ăn hằng ngày cho nó nếu không muốn quái vật đi ra khỏi hang động để tìm thức ăn và bắt người. Vì lẽ đó, dân làng thay phiên nhau từng ngày mang thức ăn ngon đặt trước hang động để cho yên thân.

Sự dũng cảm trên phương diện nào cũng được bắt đầu từ sự dũng cảm với chính mình


Vào một ngày nọ, có một vị khách đến thăm ngôi làng và nghe kể về “Hang động sợ hãi.” Anh liền tình nguyện đi vào hang động để giáp mặt với quái vật. Sự can đam của anh đã vượt qua sự ngăn cản của nhiều người. Cuối cùng, không thể thuyết phục được anh, dân làng cũng đưa tiễn anh đến hang động. Cuối cùng chỉ có mình anh tiến gần và từng bước cẩn thận vào hang. Với bó đuốc trên tay, anh chậm chậm tiến vào hang động; từng bước, anh tiến thật xâu vào hang. Bất thình lình anh nghe một tiếng hét rất nghê sợ phát ra và liền ngay sau đó anh bị một cú đánh bất ngờ và gục xuống; trong hoảng loạng tăm tối, anh thầm nghĩ là anh bị quái vật tát vào đầu anh. Anh la lên thật lớn với hy vọng dân làng trên miệng hang có thể nghe tiếng la của anh – tiếng kêu chào vĩnh biệt – “Tôi sắp bị quái vật nuốt chửng.” Sau tiếng la, anh bị choáng váng và bất tỉnh. Một hồi sau khi tỉnh lại, anh nghe tiếng nhạc ca hát và tiếng nói cười của một số người. Họ mời anh nhập bọn với họ. Họ cho anh biết, thực ra không có quái vật nào ở đây cả. Nhưng đây là sáng kiến của một vị bô lão trong làng để kiếm tìm người dũng cảm nhằm phục vụ và bảo vệ dân làng khi có nguy biến. Những ai vượt qua được quan niệm sợ hãi của xã hội và dư luận dựng nên, người ấy sẽ được chọn vào nhiệm vụ đặc biệt này – ngày ngày họ được học hỏi, luyện tập để trở nên những người tài giỏi; và cuối ngày, họ cùng chung vui những bữa tiệc thịnh soạn do người dân làng “cống nộp” cho họ trước cửa hang động[1].

→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

* * *

Bạn thân mến, câu chuyện minh hoạ trên giúp chúng ta suy niệm về nhân đức dũng cảm – một trong bốn nhân đức nhân bản trong chủ đề nhân đức của mục Sống Sao Cho Đẹp.

Vậy dũng cảm là gì? Theo nghĩa nhân bản tự nhiên: Dũng cảm là khả năng dám đối đầu với khó khăn, sóng gió của cuộc đời và của chính bản thân mình. Còn theo nghĩa Kinh Thánh: Dũng cảm là khả năng dám đối đầu với khó khăn, sóng gió của cuộc đời và chính bản thân mình vì vâng lời Thiên Chúa với sự xác tính rằng Thiên Chúa sẽ trợ lực và giúp sức mình vượt qua thử thách. Hiểu được nhân đức dũng cảm, chúng ta nhận thấy sự cần thiết biết bao để sống và áp dụng nhân đức này trong cuộc đời chúng ta. Dũng cảm không chỉ giúp chúng ta cầm khí giới để bảo vệ quê hương dân tộc với một ý chí sắt đá, nhưng dũng cảm còn cần được giáo dục và luyện tập cho con tim và khối óc để khi đối diện với những sóng gió trong đời thường của mình, chúng ta cần có sự dũng cảm để đương đầu với thử thách nghịch cảnh.

Thực là như vậy. Một cậu học sinh cần được hiểu nhân đức dũng cảm để khi bước vào phòng thi với tất cả lòng kiên định hoành thành bài thi cho tốt thay vì là bước vào phòng thi với tâm trạng bị bắt buộc, nín lặng làm cho “qua phà.” Quyết định lập gia đình cũng là một sự dũng cảm với trách nhiệm xây dựng gia đình mới, thay vì là bước vào hôn nhân như một hành vi bị thôi thúc bởi tình cảm hời hợt chóng qua. Chọn lấy đời tu, khấn dòng để trở nên một tu sĩ, linh mục cũng là một hành động dũng cảm đối diện vời trăm bề thử thách trong tương lai mà mình không biết được. Chúng ta thật cần nhân đức dũng cảm biết bao để khi đã chọn rồi – dù ở bậc sống và ơn gọi nào, mỗi chúng ta cần tiếp tục chọn lựa để đi cho đến cùng – dù có lúc thất bại, chán chường, hay ngã quị – Dũng cảm giúp chúng ta đứng lên đi tiếp.

Thực ra, sự dũng cảm trên phương diện nào cũng được bắt đầu từ sự dũng cảm với chính mình. Nói cách khác, tất cả mọi sự chiến thắng đều khởi đi từ chiến thắng chính bản thân mình. Chúng ta cũng cần khiêm tốn thú nhận với nhau một thực tế của thân phận con người: Chiến đấu với chính bản thân mình là cuộc chiến cam go và khó khăn nhất. Thực vậy, điều trở ngại lớn cho việc tập luyện nhân đức chính là bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hoàn hảo – “Tôi cần phải hoàn hảo; làm sao những lầm lỗi của tôi trong quá khứ có thể được tha thứ; tôi thật là người tội lỗi,…” Những lời kết án tương tự như trên tựa như những tiếng hét ghê sợ được phát ra ngay trong tâm hồn của chúng ta; chúng trở nên rào cản khó khăn nhất để chúng ta vượt qua chính mình và vượt qua sự sợ hãi – đó chính là cái “Hang động sợ hãi” sâu thẩm bên trong con người của mỗi chúng ta mà chúng ta không dám bước vào.

Thưa bạn, chúng ta được mời gọi để dũng cảm bước vào “hang động sợ hãi” trong chính con người của mình bằng việc ngẫm nghĩ và luyện tập nhân đức, đặc biệt nhân đức dũng cảm. Bước vào trong sâu thẳm của tâm hồn là bước vào cuộc đối diện với những “quái vật” – với những tiếng kêu la ghê sợ của sự phê bình, chỉ trích, dằn vặt và kết án. Nếu ta không bước vào đối diện với chúng, chúng mãi mãi sẽ làm ta khiếp sợ, mất tự do và phải tránh né nó một cách phi lý vô duyên. Với ơn Chúa và sự kiên trì dũng cảm tập luyện, cứ bước vào sâu thêm từng ngày trong “hang động sợ hãi,” dần dần ta sẽ khám phá ra những “quái vật” đó cũng chỉ là “quái vật” giả – hoặc nếu có thật, thì chúng cũng đã bị “đạp đầu” (x. Gn 3:15) từ lâu rồi.

Chúng ta cùng cầu chúc nhau thật dũng cảm bước vào “hang động sợ hãi” của lòng mình để được tham dự tiệc vui dành cho những người dũng cảm.

Fr. Huynhquảng

[1] Dựa theoThe Cave of Fear” trích từ http://freestoriesforkids.com/children/stories-and-tales/cave-fear

Cây phiền muộn

Posted by

Chú Báo Đêm

bao conTrong một khu rừng nọ có một chú báo thường tìm chỗ ngủ trên khúc cây kín đáo ở giữa rừng. Một đêm kia, chú bất chợt nghe động tỉnh trong khu rừng. Đêm ấy, chú đã phát hiện một kẻ trộm đã lẻn vào khu rừng. Dầu vậy, chú vẫn coi như không có chuyện gì. Liên tiếp nhiều đêm liền, chú báo thấy rõ kẻ ăn trộm vào rừng tay không, nhưng khi ra về thì tay xách nách mang. Đôi khi kẻ trộm lấy chuối của bầy khỉ, lúc khác nó lấy bộ râu của sư tử, lúc thì nó trộm cái chuổi đuôi của ngựa vằn, thậm chí nó cũng lấy luôn cặp ngà giả của chú voi già đã kín đáo mang bấy lâu. Tất cả những hành động của kẻ trộm không qua mắt được chú báo đêm, tuy nhiên có điều là chú báo vẫn giữ im lặng không cho ai biết vì cho rằng đây không phải là việc của chú. Cứ mỗi đêm chú thích thú nằm trên khúc cây kín đáo quan sát kẻ trộm đột nhập vào rừng và lấy đi tài sản của bạn hữu mà chẳng lên tiếng báo động và tố cáo kẻ trộm cho một ai biết.

Không lên tiếng trước sự bất công gian trá là có lỗi với lương tâm của mình và vi phạm đức công bình với đồng loại


→ Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Ngày qua ngày, khu rừng trở nên xáo trộn vì nhiều tài sản của các con vật mỗi ngày bị biến mất, dầu vậy chú báo đêm cũng chẳng lên tiếng để giúp bạn hữu. Bổng đi một thời gian, chú báo không thấy kẻ trộm lui tới nữa. Chú báo tự nghĩ có thể không còn gì để lấy, nên kẻ trộm không cần quay lại nữa. Sau một thời gian không thấy tên trộm, chú báo dần dần quên đi và ngủ say giấc mỗi khi đêm về. Một đêm nọ khi đang say sưa ngủ trong khúc cây kín đáo của mình, bổng giật mình tỉnh dậy, chú báo phát hiện ra cả khúc cây và người của mình đang bồng bềnh trên mặt nước trong một hang động. Mở mắt nhìn xung quanh, chú báo khám phá ra nhiều tài sản của bạn hữu đã bị đánh cắp cũng nằm trong hang động. Hoá ra là đang khi ngủ say, kẻ trộm đã đánh trộm món hàng cuối cùng là khúc gỗ mà chú báo ẩn náu. Kẻ trộm muốn dùng khúc gỗ để làm nhà kho chứa những tài sản mà nó đã trộm được từ những con vật khác.

Nhân khi kẻ trộm chưa phát hiện ra mình, chú báo tức tóc chạy về báo các bạn và kêu mọi người tới lấy lại tài sản của mình. Ai ai cũng cám ơn và ca ngợi chú báo vì đã giúp họ tìm lại tài sản của mình. Còn riêng chú báo đêm, vì khúc gỗ đã bị cưa, nên nơi trú ẩn của chú cũng mất; từ đó trở đi chú không còn nằm yên nhàn như trước, nhưng mỗi đêm chú phải lang thang không có chỗ nghỉ với tâm trạng hối tiếc vì sự im lặng bất công của mình.

* * *

Bạn thân mến, câu chuyện ngụ ngôn trên mời gọi ta suy nghĩ về đức công bình mà chúng ta đang học hỏi qua mục Sống Sao Cho Đẹp. Khái niệm thông thường của đức công bằng có thể được hiểu đơn giản như sau: Đức công bằng đòi buộc ta tôn trọng mạng sống, danh dự, tài sản của người khác. Đức công bằng bao gồm hai chiều kích: Luân lý và xã hội. Về mặt luân lý cá nhân, công bằng được hiểu rằng những gì không là của ta, thì không thuộc về ta, nên ta không được xâm phạm những giá trị ấy một cách bất hợp pháp. Về mặt xã hội, công bằng được hiểu dưới hình thức luật pháp nhằm đem lại điều tốt lành chung cho cho xã hội và cộng đồng mà mình đang sống. Vì lẽ đó, theo Aristotle, “Công bằng liên quan đến sự đồng đều trong việc phân phát và cũng như trong việc sửa sai những gì sai trái và bất công.”[1] Nói cách khác, công bằng giúp ta có ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng điều tốt và xoá bỏ điều xấu trong cộng đồng của mình.

Câu chuyện Chú Báo Đêm nhắc nhở chúng ta khía cạnh trách nhiệm của chúng ta với cộng đồng, xã hội. Chú báo chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác; chú yên vị trong khúc gỗ kín đáo của mình để mặc cho kẻ trộm tung hoành ngang dọc. Không lên tiếng trước sự bất công gian trá là có lỗi với lương tâm của mình và vi phạm đức công bình với đồng loại. Để cho lương tâm mình chai lì trước sự gian trá là có lỗi với chính mình, và không lên tiếng cho người bị áp bức là không chu toàn phận vụ làm người trong cộng đồng mình đang sống.

Bạn thân mến, có lẽ chúng ta thường để ý đế đức công bằng về khía cạnh luân lý cá nhân. Đối với nhiều người, khi không lấy cắp của ai, khi không gây tổn thương danh dự của ai, và khi không hãm hại mạng sống của ai, điều đó chúng ta đã sống đức công bằng. Lý luận như thế là đúng nhưng chưa đủ. Vì nếu chọn lối sống như thế, chúng ta cũng không khác lắm như hình ảnh của chú báo trong câu chuyện. Chú báo chẳng hề hại và xâm phạm tài sản của ai, nhưng hậu quả mà chú để lại thì đã rõ, hậu quả ấy không chỉ cho cộng đồng của chú, mà là chính bản thân chú cũng hứng chịu. Bài chia sẻ hôm nay nhắc nhở cho mỗi chúng ta cần sống đức công bình đặc biệt trong khía cạnh công bằng xã hội. Vần thơ “Sống” của Phan Bội Châu, một người con đất Việt hết lòng yêu nước, đáng sốc chúng ta dậy, đặc biệt trong bối cảnh sống của xã hội chúng ta hôm nay.

 

“Sống tủi làm chi đứng chật trời!

Sống nhìn thế giới hổ chẳng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến,

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước.

Sống lo phú quý, chẳng lo đời.

Sống mà như thế, đừng nên sống!

Sống tủi làm chi, đứng chật trời.”

Fr. Huynhquảng

[1] Western Theories of Justice, http://www.iep.utm.edu/justwest/

Chuyện đời…

rescueMỗi một hành động của con người đều là sự biểu hiện của một sự chọn lựa mà sự chọn lựa ấy có thể đến từ nhiều động cơ khác nhau: lương tâm, phục vụ, mối lợi, dự luận, hay thậm chí vì sợ hãi. Kỳ này, mục Sống Sao Cho Đẹp mời gọi bạn học hỏi nhân đức khôn ngoan. Khôn ngoan là một trong bốn nhân đức nhân bản chính yếu, hay còn gọi là nhân đức bản lề. Theo Giáo lý Công giáo, “Khôn ngoan là đức tính giúp lý trí thực tiễn trong mọi hoàn cảnh nhận ra điều thiện đích thực và chọn lựa những phương thế tốt để đạt tới” (GLCG 1806). Nói cách khác, “Nhờ đức tính này (khôn ngoan), chúng ta áp dụng đúng đắn các nguyên tắc luân lý vào từng trường hợp cụ thể, và không còn do dự về điều thiện phải làm và điều ác phải tránh” (GLCG 1806). Xin mượn câu chuyện được sưu tầm từ email của một người bạn HL để minh hoạ cho chủ để nhân đức khôn ngoan trong kỳ này.

Trong anh em, ai thiếu khôn ngoan, hãy kêu xin cùng Chúa, tất Ngài sẽ ban cho dư dật.” (Gc 1,5)

* * * → Continue reading (Xin mời đọc tiếp)… →

Một con tàu du lịch gặp nạn trên biển, trên thuyền có một đôi vợ chồng rất khó khăn mới lên đến trước mũi thuyền cấp cứu , trên thuyền  chỉ có… thừa duy nhất 1 chỗ ngồi. Lúc này, người đàn ông để vợ mình ở lại, còn bản thân nhảy lên thuyền cấp cứu . 

Người phụ nữ đứng trên con thuyền sắp chìm, hét lên với người đàn ông một câu… Kể đến đây, thầy giáo hỏi học sinh: “Các em đoán xem, người phụ nữ sẽ hét lên câu gì?”

Tất cả học sinh phẫn nộ, nói rằng: “Em hận anh, em đã lấy nhầm người rồi.”

Lúc này thầy giáo chú ý đến một cậu học sinh mãi vẫn không trả lời, liền hỏi cậu bé.

Cậu học sinh đáp: “Thầy ơi, em nghĩ người phụ nữ sẽ nói: Chăm sóc tốt con của chúng ta anh nhé!”

Thầy giáo ngạc nhiên hỏi: “Em nghe qua câu chuyện này rồi ư?”

Học sinh lắc đầu: “Chưa ạ, nhưng mà mẹ em trước khi mất cũng nói với bố em như vậy.”

Thầy giáo xúc động, “Em trả lời rất đúng.”

Người đàn ông được cứu sống trở về quê hương, một mình nuôi con gái trưởng thành. Nhiều năm sau, anh ta mắc bệnh qua đời, người con gái lúc sắp xếp kỷ vật, phát hiện quyển nhật ký của bố. Hóa ra, lúc mẹ và bố ngồi trên chiếc tàu ấy, người mẹ đã mắc bệnh nan y, trong giây phút quyết định, người chồng đã dành lấy cơ hội sống duy nhất về phần mình. Trong nhật ký viết rằng : “Anh ước gì anh và em có thể cùng nhau chìm xuống đáy biển, nhưng anh không thể. Vì con gái chúng ta, anh chỉ có thể để em một mình ngủ giấc ngủ dài dưới đáy đại dương sâu thẳm. Anh xin lỗi.”

Kể xong câu chuyện, phòng học trở nên im ắng, các em học sinh đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện này: Thiện và ác trên thế gian, có lúc lắm mối rối bời, khó lòng phân biệt, bởi vậy đừng nên dễ dàng nhận định người khác.

* * *

Chuyện đời… giúp chúng ta thấy người chồng đã hành động một cách khôn ngoan. Trong nháy mắt và quyết đoán, người chồng hành động theo động cơ lương tâm chân thật phù hợp với hoàn cảnh thực tế, không chỉ trong hiện tại mà còn hữu ích cho tương lai.

Muốn hành động khôn ngoan phải có 3 yếu tố: “Suy nghĩ cho chín chắn, quyết định cho khôn ngoan và thực hành cho chu đáo.”[1] Thiếu suy nghĩ trước khi hành động là thói quen của nhiều người trong chúng ta. Chúng ta thường hay hành động theo cảm tính – tức là được thúc dục bởi cảm tính nên chúng ta hành động. Lấy ví dụ điển hình như sau để minh hoạ cho việc hành động theo cảm tính. Người công giáo Việt Nam thường tỏ thái độ quí mến quí linh mục tu sĩ. Quí mến và kính trọng các ngài là điều đúng, tuy nhiên vì do cảm tính, mà chúng ta dễ bị lẫn lộn giữa phục vụ bác ái và quí mến theo dạng cảm tính. Có một số gia đình mỗi khi tu sĩ linh mục ghé thăm thì lúc nào cũng có cảm tính như là mình có trách nhiệm gởi tặng cho tu sĩ một món quà gì đó. Nếu không gởi thì thấy sao sao… cái sự “sao sao” đó là do cảm tính chứ không phải tinh thần phục vụ và tỏ lòng kính mến. Vì thực tế, đâu phải bất cứ linh mục tu sĩ nào ghé thăm cũng nhằm mục đích tìm sự giúp đở cho công việc từ thiện hay xây dựng. Nếu chúng ta chịu ngồi lại suy nghĩ để lắng nghe, xem xét hoàn cảnh thực tế, nhu cầu thực tế… thì có lẽ chúng ta sẽ làm những việc hiệu quả hơn cho những nhu cầu thực tế hơn.

Chính vì lẽ đó, đức khôn ngoan giúp ta suy nghĩ để xét đến kinh nghiệm của mình và của người, hoàn cảnh của mình và của người. Vì lẽ đó, khi phải đối diện với những quyết định quan trọng, ta nên áp dụng đức khôn ngoan trong việc suy nghĩ, kể cả bàn hỏi với người khôn ngoan, kinh nghiệm khi cần thiết.

Học và tập nhân đức khôn ngoan cần thời gian và kinh nghiệm, và nhất là sự cầu nguyện. Thánh Giacôbê dạy rằng, “Trong anh em, ai thiếu khôn ngoan, hãy kêu xin cùng Chúa, tất Ngài sẽ ban cho dư dật.” (Gc 1,5). Với ơn thánh của Chúa, chúng ta sẽ nhìn lại quá khứ và dự phóng cho tương lai. Với ơn thánh của Chúa, chúng ta sẽ nhận ra những giới hạn và những khả năng trong con người mình. Đây là việc làm suốt cả đời người. Chúng ta cầu chúc và cầu nguyện cho nhau để được ơn khôn ngoan, hầu những chọn lựa của chúng ta dù lớn hay nhỏ luôn luôn theo ý Chúa.

Fr. Huynhquảng

[1] http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/TuDuc/160LuyenTapNhanDuc.htm

Căn nhà

Mahatma Gandhi

Những người khốn khổ

Cây kiếm gỗ